CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Dẫn nhập Để có cái nhìn tổng quan về lịch sử phát triển của ẩn dụ ý niệm trong tiêu đề và sa-pô báo chí, chúng tôi tìm hiểu các nghiên cứu có liên quan theo vấn đề và theo trình tự thời gian để thấy được sự thay đổi trong quan điểm về ẩn dụ. Chúng tôi cũng lựa chọn cách tiếp cận “thu hẹp” dần, bắt đầu bằng các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm nói chung rồi tập trung vào các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong tiêu đề và sa-pô báo chí ở nước ngoài và trong nước để tìm hiểu các kết luận đã đạt được, qua đó xác định “khoảng trống” cho vấn đề nghiên cứu. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm 1. Các nghiên cứu trên thế giới a. Các nghiên cứu theo hướng lý thuyết: Các nhà khoa học đại diện là Lakoff và Johnson (1980) [78], G. Ngoài ra, những tên tuổi đáng chú ý khác là Turner, Jackendoft, Kovecses Goatly, Gibbs Rosch, Shore, Steen, Wierzbicka.
Theo tri nhận luận, ẩn dụ là kết quả của sự kết hợp ngôn ngữ- văn hoá trong quá trình tư duy của một cộng đồng văn hoá cụ thể. Nghiên cứu điển hình nhất và được coi là thành công nhất đối với nghiên cứu ẩn dụ theo hướng ngôn ngữ tri nhận là tác phẩm “Metaphors We Live By” của G. Lý thuyết này chỉ ra rằng hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta tức là chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là có tính ẩn dụ. Theo hai ông, hệ thống ý niệm của con người được cấu trúc một cách ẩn dụ, nói cách khác đó là những khái niệm văn hoá phổ biến.
Điều này tạo cho ẩn dụ một vai trò quan trọng trong việc xác định cách chúng ta tiếp cận thế giới và cách chúng 9 ta suy nghĩ, hành động. Với cách nhìn này, ẩn dụ được xác định như là sự liên kết giữa một phạm trù nguồn và một phạm trù đích. Ví dụ: (2) Life is a journey. (Cuộc đời là một chuyến đi) Ẩn dụ này gồm có phạm trù nguồn (a source domain) là journey - chuyến đi và phạm trù đích (a target domain) là life - cuộc đời.
Giữa hai phạm trù này có một mối liên hệ giao thoa vì đặc điểm của chuyến đi và đặc điểm cuộc đời có những điểm chung (Lakoff và Tumer 1989) [79]. Vì vậy, một số đặc điểm của chuyến đi được sử dụng để nhấn mạnh một số đặc điểm của cuộc đời. Theo các tác giả của lý thuyết tri nhận về ẩn dụ (Lakoff và Johnson, 1980 [78]; Lakoff và Tumer, (1989) [79]; Lakoff (1993) [67]) thì hệ thống ý niệm của con người có nguồn gốc chủ yếu từ những kinh nghiệm thuộc về cơ thể con người nhưng được đặt lên một phạm trù trừu tượng hơn (more abstract categories). Hai ông đã phân biệt ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) với những cách diễn đạt thông thường (ẩn dụ ý niệm vẫn còn có sự hàm ẩn), ví dụ như cách diễn đạt: (At the crossroad of life: Ở ngã ba cuộc đời, Dead-end in life: Điểm cuối của cuộc đời).
Có thể là những phần của sự hàm ẩn trong ẩn dụ: Life is a journey - Cuộc đời là một chuyến đi Dựa trên nền tảng về ngôn ngữ học tri nhận, Lakoff (1993) [80] tiếp tục phát triển các khái niệm về ẩn dụ, ông phát triển tư tưởng về sự liên hệ giữa quá trình tạo lập hệ thống ý niệm của con người, cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên và vai trò của ẩn dụ để xây dựng học thuyết về “trí tuệ nghiệm thân” (embodied mind). Học thuyết này nghiên cứu sự liên hệ và phụ thuộc giữa năng lực nhận thức và tư duy đến thế giới quan trong đó liên kết với khía cạnh sinh học của con người: đặc điểm não bộ và cơ thể người [67]. Các nghiên cứu theo hướng ứng dụng: Kể từ khi phát hiện ra ẩn dụ ý niệm, các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ứng dụng lý thuyết ẩn dụ để nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các lĩnh vực pháp luật, thi ca, chính trị, tâm lý học, vật lý, khoa học máy tính, toán học và triết học. Các kết quả nghiên cứu về cấu trúc ẩn dụ đã góp phần làm sáng tỏ cách thức con người tư duy trong một số lĩnh vực trí tuệ.
Trong lĩnh vực văn học, Lakoff và Tunner (1989) [79] chứng minh được rằng chỉ khi phép ẩn dụ trong thơ ca ổn định thì ẩn dụ mới được tiếp tục sử dụng trong ngôn ngữ và tư tưởng đời thường. Các ý niệm về đạo đức được thể hiện một cách rõ ràng trong văn học thông qua các ẩn dụ và thảo luận về ẩn dụ. Qua những thảo luận này những ý niệm hoặc thông điệp được truyền đạt nhanh và rõ ràng hơn [79]. Trong các lĩnh vực pháp luật, Lakoff và Johnson (1996) [81] đã chứng minh được rằng: “Ẩn dụ đóng vai trò then chốt trong kiến tạo thực trạng xã hội và chính trị”.
Trong nghiên cứu của Lakoff (1996) ông đã tiến hành nghiên cứu đối tượng là thế giới quan của những người có quan điểm bảo thủ và cấp tiến ở Mỹ. Ông tiến hành nghiên cứu và xem xét quan điểm về kiểm soát súng đạn, thuế phí, các luật liên quan đến nhân quyền, môi trường và nghệ thuật trong một cấu trúc khung tri nhận nhất định [81]. Gibbs (1994) kế thừa những nghiên cứu của Lakoff để chứng minh rằng ẩn dụ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực nhận thức và tâm lý học. Có thể nói, ẩn dụ và lý thuyết về ẩn dụ ngày càng có vai trò quan trọng không chỉ trong ngành nghiên cứu ngôn ngữ học mà còn cả trong những ngành nghiên cứu khoa học khác [66].
Trong lĩnh vực chính trị xã hội, nhiều nghiên cứu cho thấy ẩn dụ là một công cụ định hướng và lan tỏa tư tưởng trong xã hội một cách hiệu quả: Johnson (1993), Lakoff (1996) [81], Lakoff và Johnson (1999) [83] nghiên cứu về ẩn dụ với các vấn đề chính trị, đạo đức, triết học. Lakoff (1996) [81]đã chỉ ra rằng quan điểm là nền 11 tảng tư duy chính trị của giới chính trị gia Hoa Kỳ; Taiwo (2013) [98] chỉ ra sự xuất hiện phổ biến của các ẩn dụ ý niệm liên quan đến quốc gia, chính trị gia trong các diễn văn chính trị tiếng Anh của các chính khách Nigeria, trong đó miền nguồn “xây dựng” được sử dụng nhiều cho miền đích “chính trị” mà những chính trị gia được xem như người thợ xây dựng và kiến tạo thể chế, quốc gia… 1. Các nghiên cứu trong nước a. Các nghiên cứu theo hướng lý thuyết: Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ẩn dụ trong Việt ngữ học trong mấy thập kỷ qua là khá nhiều, với nhiều mảng thành tựu của các nhà khoa học hàng đầu.
Trong giai đoạn phát triển của ngôn ngữ học tri nhận, đã có những nghiên cứu của một số tác giả về nghiên cứu ẩn dụ theo ngôn ngữ học tri nhận. Năm 2002, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã bước đầu sử dụng thuật ngữ tri giác khi bàn đến ẩn dụ dưới lăng kính là một kiểu “tư duy phạm trù” [42]. Lý Toàn Thắng (2005) đã đưa ra hướng nghiên cứu về thời gian và không gian trong đó lấy con người làm trung tâm để theo dõi quá trình nhận thức. Theo hướng nghiên cứu này ngôn ngữ phản ánh cách thức con người tri nhận về thế giới quan xung quanh [37].
Năm 2009, Phan Thế Hưng đã trình bày quan niệm của mình về ẩn dụ rất đáng chú ý trên cơ sở trình bày và phân tích khá tỉ mỉ quan niệm của Aristotle và nhiều nhà ngôn ngữ học sau đó. Phan Thế Hưng cho rằng: “Chúng ta không hiểu ẩn dụ bằng chuyển ẩn dụ thành phép so sánh. Thay vì vậy, câu ẩn dụ là câu bao hàm xếp loại và do vậy hiểu ẩn dụ qua câu bao hàm xếp loại”, so sánh ẩn dụ tuân theo tầng bậc của loại , theo hệ thống tôn ti và bản chất của sự xếp loại là cơ sở của tính 12 ẩn dụ [22]. Các nghiên cứu theo hướng ứng dụng: Trong những năm gần đây, vai trò của ẩn dụ tri nhận đối với ngôn ngữ học tri nhận ngày càng lớn và trở thành chủ đề được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong Việt ngữ học trong mấy thập kỷ qua là khá nhiều, với nhiều mảng thành tựu như: nghiên cứu về các ẩn dụ không gian và thời gian (với các tên tuổi: Lý Toàn Thắng, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Văn Hán…), nghiên cứu về các ẩn dụ ý niệm cảm xúc, các ẩn dụ chỉ tình cảm của con người (Phan Thế Hưng (2009) [22], Ly Lan (2012) [25], Trần Bá Tiến (2012) [41], Trần Thế Phi (2016) [29], Nghiêm Hồng Vân (2018) [43]… các nghiên cứu đã nhấn mạnh trải nghiệm của cơ thể con người trong ẩn dụ là những trải nghiệm mang tính phổ quát. Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm và vai trò của ẩn dụ trong sự hành chức cụ thể qua các tác phẩm thi ca cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tiếp cận: các nghiên cứu về vai trò của ẩn dụ trong các tác phẩm văn học, thi ca, trong thành ngữ, tục ngữ (Huỳnh Ngọc Mai Kha, 2015 [23] ; Phạm Thị Hương Quỳnh, 2015 [32]; Ngô Tuyết Phượng, 2018 [30]; Trần Văn Nam, 2018 [26]); nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong ca từ, trong các tác phẩm âm nhạc, vai trò của ẩn dụ ý niệm trong ca từ (Nguyễn Thị Thanh Huyền (2009) [21], Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015) [12], trên cơ sở các trải nghiệm nghiệm thân và các mô hình văn hóa mang tính quy ước của cộng đồng, chỉ ra tính phổ quát và tính dị biệt trong tư duy âm nhạc của người nghệ sĩ. Nhìn chung, các nghiên cứu đã khẳng định và chứng minh rằng yếu tố cơ thể hóa ngôn ngữ, kinh nghiệm nghiệm thân và sự tác động của thế giới bên ngoài, mà cụ 13 thể là văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đã tạo ra những ẩn dụ ý niệm vừa mang tính phổ quát, vừa mang đặc trưng tư duy dân tộc. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí, tiêu đề và sa-pô báo chí 1.
Các nghiên cứu trên thế giới a. Các nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí Trên thế giới, nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. Ngoài các nghiên cứu theo hướng lý thuyết, từ đầu những năm 1980 trở lại đây, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí đã tập trung đi vào nghiên cứu một cách chuyên sâu, cụ thể hơn.