Chương 1: Tổng quan nghiên cứu; - Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu; - Chương 3: Điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu; - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Ngoài ra còn có hệ thống 47 bảng biểu, 12 hình minh họa, 50 tài liệu tham khảo trong đó 32 tài liệu tiếng Việt, 13 tài liệu tiếng nước ngoài, 5 trang website có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và phần phụ lục gồm các bảng biểu minh họa kết quả điều tra và tính toán. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Điều chỉnh sản lượng rừng 1.
Giới thiệu chung về điều chế rừng Điều chế rừng (forest management) xuất hiện và hình thành từ cuối thế kỷ 18 ở phương Tây. Tùy theo quan điểm, góc độ kinh doanh lợi dụng rừng và trình độ kỹ thuật nên định nghĩa, hiểu biết về điều chế rừng một cách khác nhau. Điều chế rừng mang tính ứng dụng của việc tổ chức rừng dựa trên cơ sở quy luật phát triển sinh học của quần thể rừng để khai thác, nuôi dưỡng, bảo vệ, phục hồi tái sinh rừng… tác động theo hướng tích cực để phát triển rừng đến trạng thái cân bằng đảm bảo vốn rừng ổn định năng suất cao, phát huy tối đa tác dụng tổng hợp của rừng. Với quan điểm này, Rucareanu (1965) [43] đã định nghĩa điều chế rừng là khoa học và thực tiễn về tổ chức rừng, phù hợp với nhiệm vụ quản lý kinh doanh rừng.
Thực chất thời gian và không gian là sự sắp xếp chủ yếu mà qua đó những công việc khai thác và nuôi dưỡng rừng được ấn định để đưa rừng về trạng thái phù hợp nhất với mục tiêu kinh tế. Quan điểm của các nhà Lâm nghiệp Pháp cho rằng: “Điều chế rừng là nghệ thuật thu hoạch sản phẩm và tái tạo lại rừng theo một nhịp điệu, nhằm đạt đến mục tiêu xác định đối với rừng” (Coliet, J. 1975) [37], một quan điểm khác cho rằng điều chế rừng là một nghệ thuật quy định việc khai thác rừng, tính chất, thứ tự theo lô khai thác để thỏa mãn nhu cầu hay cung cấp tài nguyên hàng năm. Thực chất, thu hoạch hay khai thác là thuộc phạm vi sản xuất, nó phải được thực hiện theo những kế hoạch đã được lập hay nói cách khác là điều chỉnh sản lượng rừng theo nhu cầu của con người.
6 Hiện nay có nhiều phương pháp điều chỉnh sản lượng rừng, theo đó phương pháp điều chỉnh lượng khai thác được sử dụng khá phổ biến. Lƣợng khai thác Lượng khai thác là khối lượng gỗ có thể thu hoạch đối với một đơn vị thời gian. Khối lượng khai thác hàng năm được gọi là lượng khai thác hàng năm. Khối lượng khai thác trong một giai đoạn gọi là lượng khai thác giai đoạn.
Độ lớn của lượng khai thác là kết quả của hai nhân tố: Tăng trưởng rừng và nuôi dưỡng cải thiện không ngừng trạng thái rừng, theo nguyên tắc điều chế. Cho nên lượng khai thác biểu thị năng suất rừng, đồng thời biểu thị biện pháp đưa rừng về trạng thái chuẩn. Vì vậy, nó có thể lớn hoặc nhỏ hơn hay bằng lượng tăng trưởng của rừng (Biolley, H 1920) [36]. a) Lượng khai thác hàng năm theo diện tích Ls Lượng khai thác theo diện tích chủ yếu được sử dụng với tính chất để kiểm tra hay trong trường hợp kinh doanh ở trình độ thấp, không yêu cầu độ chính xác cao hoặc trong trường hợp điều kiện lập địa của công ty tương đối đồng đều (rừng có năng suất tương đối bằng nhau) (FSC, 2010) [39].
Trong trường hợp này, lượng khai thác được tính theo công thức: Ls = (1-1) (FSC, 2010) [39] Trong đó: S là diện tích rừng (ha); r là chu kỳ hay luân kỳ tương ứng (năm) Tỷ lệ này biểu thị độ lớn của diện tích chặt hàng năm. Một trong những mục đích chính của ấn định khai thác là bảo đảm thu hoạch một khối lượng gỗ hàng năm bằng nhau. Điều kiện này chỉ được thỏa mãn khi: - Rừng đồng tuổi, khai thác trắng, có điều kiện hoàn cảnh/cấp đất đồng nhất trên toàn bộ diện tích, nghĩa là năng suất rừng như nhau và đạt đến thành thục ở cùng tuổi. - Rừng chặt chọn, đòi hỏi rừng có trữ lượng như nhau ở tuổi khai thác và điều kiện địa hình cho phép khai thác với cường độ như nhau.
7 Trong trường hợp không đáp ứng các yêu cầu trên, cần xác định diện tích chặt hàng năm không bằng nhau, lượng khai thác được xác định theo diện tích và kiểm chứng lại bằng lượng khai thác theo thể tích. b) Lượng khai thác hàng năm theo thể tích Lv Lượng khai thác hàng năm theo thể tích biểu thị trực tiếp khối lượng sản phẩm thu hoạch. Việc xác định nó khó hơn lượng khai thác theo diện tích, bởi vì các nhân tố dùng để xác định nó là tăng trưởng luôn biến đổi và khó xác định (Nguyễn Hồng Quân, Phạm Văn Điển, 2013) [22], (FSC, 2004) [40]. Theo nguyên lý chung thì lượng khai thác bằng lượng tăng trưởng, nhưng trong thực tế không hoàn toàn như vậy.
Đó cũng là điều mà nhà điều chế cần phải tính toán để xác định cho phù hợp và phải luôn coi nó như một công cụ để đưa rừng về trạng thái chuẩn. Nếu vốn rừng có độ lớn chuẩn, độ lớn này cần được duy trì, lượng khai thác cần tương ứng với tăng trưởng của vốn rừng. Ký hiệu Lv là lượng khai thác theo thể tích, C là lượng tăng trưởng hàng năm của rừng, có thể viết: Lv = C (1-2) [22] Nhưng nếu vốn rừng thực hiện khác với vốn rừng chuẩn, để chuẩn hóa nó lượng khai thác cần lớn hơn lượng tăng trưởng, khi vốn thực sự lớn hơn vốn chuẩn, để loại trừ dần sự dư thừa, hoặc nhỏ hơn tăng trưởng để tích lũy vốn, khi vốn thực sự nhỏ hơn vốn chuẩn. Công thức chung của lượng khai thác theo thể tích là: Lv = C + Q (1-3) [22] Trong đó Q biểu hiện sự chênh lệch giữa vốn thực và vốn chuẩn, nó có thể là dương hay âm, tùy thuộc vào trạng thái vốn rừng.
trong trường hợp giá trị tuyệt đối của Q quá lớn, việc loại trừ hay tích lũy không thể thực hiện ngay trong một năm mà phải trong một thời gian nào đó. Gọi a là thời gian cần thiết để loại trừ sự chênh lệch, mà không ảnh hưởng đến việc bảo đảm nguyên tắc sản xuất liên tục và không làm giảm năng suất của rừng, gọi Vc là vốn rừng chuẩn, Vt là vốn rừng thực thì lượng khai thác Lv có thể biểu thị bằng công thức: Lv = C + (1-4) [22] 8 Công thức này được đề nghị từ thời kỳ đầu của điều chế rừng và được trình bày trong sách khoa học kỹ thuật dưới dạng công thức cameraliste, theo tên của phương pháp điều chế đầu tiên sử dụng. Nó là tiền đề và cơ sở để suy ra nhiều công thức khác tương ứng với các phương pháp điều chế rừng. Hiện nay, đối với rừng đồng tuổi lượng khai thác không chỉ xác định theo thể tích hay theo diện tích mà theo cả diện tích và thể tích hay nói cách khác là dùng theo diện tích và kiểm tra theo thể tích.
Chúng được kết hợp như vậy là vì việc xác định vốn rừng và tăng trưởng của rừng là rất khó và dễ mắc sai số, cho nên người ta thường xuất phát từ cách đơn giản là xác định lượng khai thác giai đoạn theo diện tích và sau đó tính lượng khai thác hàng năm theo thể tích. Lượng khai thác hàng năm theo thể tích phụ thuộc hay bị khống chế bởi lượng khai thác giai đoạn theo diện tích và lượng khai thác theo giai đoạn là một phương tiện kiểm tra sự lên tục trong suốt thời gian của chu kỳ. Ngoài ra còn có phương pháp vốn rừng dự phòng cũng được sử dụng trong điều chế rừng trong trường hợp vốn rừng đạt đến trạng thái chuẩn. Vốn rừng dự phòng Trong rừng được điều chế, khi vốn rừng đạt đến trạng thái chuẩn thì có thể thu hoạch hàng năm một khối lượng gỗ không thay đổi và sự khai thác vượt quá khối lượng này đều dẫn đến giảm vốn rừng và năng suất rừng, mặt khác làm giảm tỷ lệ các loại gỗ có giá trị, ngăn cản việc thỏa mãn nhu cầu thường xuyên và ổn định về gỗ, hay phần nào làm rạn nứt mắt xích liên tục.
Qua tổ chức sản xuất cần phải dự phòng trước tình trạng này. Biện pháp sử dụng ở đây là duy trì vốn rừng dự phòng. Vốn rừng dự phòng là một phần trong vốn rừng, không được đưa vào tính toán lượng khai thác và dùng để bù đắp sự mất mát đột xuất vốn rừng, trong trường hợp thiên tai, hay khi nhu cầu gỗ tăng, đòi hỏi phải khai thác lớn hơn lượng khai thác. Theo nhận định này, vốn rừng dự phòng có thể chia ra: Vốn dự phòng cố định và vốn dự phòng di động.
a) Vốn dự phòng cố định: 9 Được xây dựng trong một số lâm phần thành thục và xác định rõ ràng trên thực địa. Những lâm phần này không được dự kiến trong kế hoạch khai thác mà để dành khai thác trong những trường hợp cần thiết. Đứng về mặt sản xuất, vốn dự phòng cố định không có lợi, vì trong trường hợp không có yêu cầu đột xuất về gỗ, vốn dự phòng không được khai thác, trong khi nó đã quá thành thục, năng suất rừng bị giảm, chất lượng rừng xấu. Có thể giải quyết nhược điểm này bằng cách qua các định kì phúc tra sau từng giai đoạn, nếu rừng dự phòng không được khai thác, thì thay những lâm phần quá già bằng các lâm phần còn non hơn hoặc áp dụng vốn dự trữ linh động.
b) Vốn dự phòng linh động: Được xác định bằng cách ấn định một lượng khai thác nhỏ hơn mức chuẩn. Cách tính toán có thể khác nhau, thường là xác định lượng khai thác hàng năm số % nhỏ hơn mức tăng trưởng rừng. Vốn dự phòng linh động có thể hình thành qua chấp nhận một chu kì dài hơn, chẳng hạn đối với một đơn vị sản xuất được xây dựng chuẩn, người ta xác định vốn dự trữ gấp 3 lần lượng khai thác hàng năm, trong trường hợp này khối lượng gỗ có trong rừng ở 1 thời điểm là Vc + 3Lv, trong đó Vc là vốn rừng chuẩn, còn Lv là lượng khai thác hàng năm. Tất nhiên vốn này có thể tương ứng với vốn rừng chuẩn của chính khu rừng ấy với một chu kì dài hơn.
Phân loại phương pháp điều chỉnh sản lượng Phương pháp điều chỉnh sản lượng là cách ấn định khai thác gỗ trong một khu rừng, cụ thể là xác định lượng khai thác và kế hoạch hóa khai thác, nhằm thực hiện và duy trì khai thác chuẩn.