Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Khái quát chung về vấn đề nghiên cứu 1. Đặc điển phân bố và sinh thái loài Keo lá tràm Keo 14 tram (Acacia auriculiformis A. ex Benth) thudc chi Keo (Acacia Miller), ho phu Trinh nt (Mimosoideae), ho Dau (Leguminosae).
Trén thé giới, chỉ Keo có khoảng 1.450 loai (Lewis, 2000) [95] phân bề tự nhiên tại Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc, riêng ở Úc có khoảng 1. Keo lá tràm có phân bố tự nhiên chủ yếu ở phía Bắc của bang Queensland và Northern Territory của Úc và nhiều vùng của Papua New Guinea, kéo dài tới Irian Jaya và quần đảo Kai của Indonesia, phạm vi phân bố từ 5-17 độ vi Nam, tập trung chủ yếu từ 8-16 độ vĩ Nam; độ cao từ 0- 600 m so với mực nước biển, nhưng chủ yếu đưới 100 m. Vélez-Gavilán (2016) [110] va Boland (1990) [71] cho rang KLT thich hop ở độ cao từ 0 - 600 m so với mực nước biển, nơi có khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình hằng năm >24°C, lượng mưa trung bình từ 1.700 mm/năm, mùa khô hạn từ 5 - 6 tháng, nhưng sinh trưởng tốt ở những vùng có lượng mưa từ 2.500 mm/năm, chỉ có một vài tháng khô. Ngoài ra, loài cây này cũng có thể tổn tại ở những nơi có lượng mưa thấp dưới 1.
Một số nhân tố giới hạn của KLT là độ cao >600 m, lượng mưa <1.000 mm và khả năng chống chịu gió kém (Doran, Turnbull, Martensz và cộng sự, 1997) [77]. Hiện nay, KLT đã được di thực trồng mở rộng ra nhiều quốc gia ở các châu lục khác nhau và nhiều nhất là các nước châu Á. Từ những năm 1990, tổng diện tích rừng trồng KLT tại Trung Quốc đã là 60.000 ha, tại Việt Nam là 45.000 ha, tại An Độ là 45.000 ha; ở các nước Thái Lan, Philippines, Indonesia và Malaysia cũng đạt gần 10. In: Invasive Species Compendium.
Wallingford, aneroduced UK: CAB International.org/isc © : @ Native Hinh 1. Ving phan bố tự nhiên của Keo lá tràm (màu xanh) và vùng di thực (màu hồng) (Vélez-Gavilán, 2016) [110] 1. Lịch sử gây trồng Keo lá tràm tại Việt Nam Keo lá tràm cùng với nhiều loài keo khác đã được nhập vào trồng thử nghiệm ở vùng Đông Nam Bộ nước ta từ những năm 1960, nhưng không rõ xuất xứ ban đầu (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [37]. Trong hai năm 1970-1971, KLT được trồng ở Thừa Thiên Huế với mục đích trang trí đường phố và làm cây cảnh quan đọc hai bên bờ sông Hương.
Năm 1976, KLT được trồng mở rộng trên một số dạng lập địa như đất phèn ở Tân Tạo (Tp. Hồ Chí Minh), đất xám ở miền Đông Nam Bộ, đất bazan ở Lâm Đồng và Pleiku. Đến năm 1977-1980, KLT được trồng mở rộng từ vĩ tuyến 17 trở ra, gồm: Đông Hà - Quảng Trị, Đại Lải - Vĩnh Phúc, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Đồng Hỷ - Thái Nguyên (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [37]. Từ năm 1982, nhiều loài và xuất xứ keo được nhập vào nước ta để phục vụ sản xuất với mục đích trồng rừng và phục hồi rừng.
Giai đoạn từ năm 1982-1992, một bộ giống được nhập từ Australia gồm 73 xuất xứ của 5 loài keo, gồm: Keo lá tràm (A. auriculiformis), Keo tai trong (A. mangium), Keo 1a liém (A. carassicarpa), Keo da than (A.
aulacocarpa) va Keo bui (A. cincinnata) đã được trồng khảo nghiệm ở nhiều vùng sinh thái ở nước ta (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [37]. Keo lá tràm là loài cây có biên độ sinh thái rộng, và là loài cây nhiệt đới có thể chịu đựng được các điều kiện khô hạn như tại Tuy Phong (Bình Thuận), vùng đất phèn như tại Tân Tạo (Tp. Hồ Chí Minh).
Tuy vậy, sản lượng rừng trồng thương mại KLT lại biến động rất lớn tuỳ thuộc vào điều kiện lập địa, trong đó thời gian sinh trưởng của cây liên quan tới các yếu tô nhiệt độ, lượng mưa và khả năng thích nghi của giống với điều kiện khí hậu nơi trồng. Vì vậy, trồng rừng thương mại cho KLT ở miền núi phía Bắc nước ta cần phải quan tâm đến phân chia lập địa do có mùa đông lạnh, cây hầu như không sinh trưởng, khi nhiệt độ xuống thấp và khi nhiệt độ xuống dưới §°C trong thời gian dài có thê dẫn đến cây bị chết (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1996) [36]. Một số khái niệm về kỹ thuật trồng rừng thâm canh Khái niệm về trồng rừng thâm canh có thể khái quát theo 2 quan điểm sau đây: Quan điểm thứ nhất: Trồng rừng thâm canh là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất, trồng, chăm sóc bảo vệ đến khâu khai thác rừng, nhằm nâng cao số lượng và chất lượng lâm sản đồng thời củng cố tiềm năng tự nhiên để nâng cao sức sản xuất của rừng (Phạm Quang Minh, 1987) [35]. Quan điểm thứ hai: Rừng thâm canh là loại rừng có năng suất cao do sự đầu tư lớn về kinh tế kỹ thuật.
Thâm canh rừng là một phương thức kinh doanh được đặc trưng bằng sự tăng chỉ phí trên một đơn vị diện tích kinh doanh và sự giảm chỉ phí trên một đơn vị sản pham. Sy tang chi phí trên một đơn vị diện tích kinh doanh là sự đầu tư về kinh tế khoa học kỹ thuật trong quá trình từ chọn giống, trồng, chăm sóc rừng và quản lý bảo vệ (Vũ Đình Hèo, 1986) [30]. Cả hai quan điểm trên đều đúng nhưng chưa đủ bởi vì chưa nhấn mạnh đúng mức việc đầu tư vào các khâu chọn vùng, chọn đất, chọn cây trồng và đặc biệt đã chú trọng tận dụng tiềm năng tự nhiên môi trường nhưng chưa đặt ra van đề phải bảo vệ tiềm năng đó cho phát triển bền vững. Do vậy khái niệm trồng rừng thâm canh đã được (Nguyễn Xuân Quát, 1995; 1998) [41],[42] khái quát 8 lại như sau: "Trồng rừng thâm canh là một phương pháp canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn.
Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo và phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đây mạnh mẽ sinh trưởng của rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ để cho hiệu quả lớn. Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềm năng đất đai và môi trường đảm bảo an toàn sinh thái đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định lâu dài và bền vững". Quy định về rừng trồng gỗ lớn Quyết định 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18/4/2014 của Bộ NN&PTNT [14] Phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng suất, gia tri ring trồng giai đoạn 2014- 2020, đã xác định: (¡) Nâng cao năng suất bình quân rừng trồng mới và rừng trồng lại bằng cây sinh trưởng nhanh đề kinh doanh gỗ lớn đạt 15 mÌ/ha/năm trở lên ở vùng ĐBB và 20 mỶ/ha/năm trở lên ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ; (ii) Đối với rừng trồng kinh doanh gỗ lớn đưa tỷ lệ gỗ lớn bình quân (gỗ xẻ có đường kính >15cm) từ 30-40% sản lượng khai thác hiện nay lên 50-60% vào năm 2020 và trên 60% từ năm 2020 trở đi. Theo đó, sản phẩm gỗ xẻ có kích thước đạt tiêu chuẩn 26 lon (® 15cm).
Theo tiêu chuẩn ngành 04TCN 126:2006 [3] về Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây gỗ lá rộng dưới tán rừng trồng đề cung cấp gỗ lớn, thì gỗ lớn được hiểu là sản phâm gỗ tròn khi khai thác cây mục đích, có đường kính từ 25 cm trở lên và chiều dài sản phẩm tối thiểu là 3 m. Theo tiêu chuân Quốc gia (TCVN 11567-1:2016) [10] đối với rừng trồng keo thì gỗ lớn là gỗ có đường kính đầu nhỏ lớn hơn hoặc bằng 15 em và chiều dài lớn hơn hoặc bằng 2 m và rừng trồng với mục đích cung cấp gỗ lớn có tỷ lệ gỗ lớn đạt >70%. Theo Điều 3 về giải thích từ ngữ tại Thông tư 29/2018/TT-BNNPTNT [16] về rừng trồng gỗ lớn được giải thích như sau: “Rừng trồng gỗ lớn là rừng có tối thiểu 70% số cây đứng trên một đơn vị diện tích có đường kính tại vỊ trí 1,3 m từ 9 20 cm trở lên đối với cây sinh trưởng nhanh hoặc từ 30 cm trở lên đối với cây sinh trưởng chậm ở tuổi khai thác chính.” Theo tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN 8761-1:2017) [12] thì loài cây sinh trưởng nhanh là những loài cây đạt lượng tăng trưởng đường kính bình quân hàng năm đạt tối thiểu từ 2 cm/năm trở lên hoặc năng suất bình quân trong một chu kỳ kinh doanh đạt tối thiểu từ 15 m”/ha/năm trở lên. Như vậy, đối với KLT để phát triển rừng trồng gỗ lớn thì đây là loài được xếp vào nhóm loài cây sinh trưởng trung bình khá (tăng trưởng đường kính chưa đạt 2 cm/nam), dé tao lap rung trong KLT dat tir 70% sé cay co duong kinh tai vi tri 1,3 m 1a 20 cm trở lên, với mức sinh trưởng tại cấp đất I vùng Đông Nam Bộ là 1,43 cm/năm trở lên thì một chu kỳ kinh doanh rừng trồng gỗ lớn KLT chỉ kéo dài khoảng 14 năm (Bùi Việt Hải, 1998) [26] và cần khoảng 20 năm tại vùng Nam Trung Bộ (Nguyễn Huy Sơn và Phạm Đình Sâm, 2016) [55].
Trên thế giới 1. Nghiên cứu chọn giống Keo lá tràm Keo lá tràm cùng với các loài keo khác đã được nghiên cứu cải thiện giống thông qua các khảo nghiệm loài kết hợp khảo nghiệm xuất xứ từ rất sớm ở các nước Đông Nam Á. - Chọn xuất xứ Tại Philippine khảo nghiệm loài kết hợp khảo nghiệm xuất xứ KLT đã được thực hiện vào năm 1993 gồm 20 xuất xứ của 15 loài keo, sau 30 tháng tuổi đã xác định được 5 loài có triển vọng, kết quả đã chọn được các xuất xứ triển vọng là Bensbach, Holroyd và lô hạt giống 18601 (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [37]. Các khảo nghiệm ở Trung Quốc cũng đã xác định KLT là một trong những loài có triển vọng dé trong rừng với 4 xuất xứ tốt nhất, gồm Morehead River (Qld), Coen River (Qld), Rifle Creek (Qld) va Iokwa (Papua New Guinea).
Tai Malaysia, 04 xuất xứ từ Queensland (Archer River, Coen River, Wenlock River và Kings Plain), 03 xuất xứ từ Northern Territory (Noogoo Swamp, Douglas River và E. Alligator River) và 01 xuất xứ từ Papua New Guinea (Old Tonda 10 Village) da duoc xác định là các xuất xứ có triển vọng (Luangviriyasaeng và Pinyopusarerk, 2002; Nor Aini, Nang va Awang, 1997) [96],[103]. Shukor, Awang, Venkateswarlu và cộng sự (1993) [105] đã nghiên cứu khảo nghiệm xuất xứ KLT ở Malaysia với 28 xuất xứ từ Bắc Queensland (7), Bắc Territory (15) của Australia và Papua New Guinea (6).