Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật đề xuất phát triển rừng trồng quế cinnamomum cassia tại huyện bảo yên tỉnh lào cai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật đề xuất phát triển rừng trồng quế cinnamomum cassia tại huyện, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

72
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về rừng trồng quế và Cinnamomum Cassia

Rừng trồng quế tại Bảo Yên, Lào Cai đã trở thành một trong những mô hình phát triển nông nghiệp bền vững. Cinnamomum Cassia, loài cây chính trong nghiên cứu, được đánh giá cao về giá trị kinh tế và sinh thái. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp kỹ thuật để phát triển rừng trồng quế một cách hiệu quả. Phát triển rừng trồng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường và tăng độ che phủ rừng.

1.1. Đặc điểm sinh thái và kỹ thuật trồng quế

Cinnamomum Cassia là loài cây thích hợp với khí hậu mát ẩm, nhiệt độ trung bình từ 22-24°C và lượng mưa trên 2000mm/năm. Cây quế có thể sinh trưởng tốt trên các loại đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất dày và thoát nước tốt. Kỹ thuật trồng quế bao gồm việc chọn giống, mật độ trồng, và chăm sóc rừng trồng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc bón phân hợp lý và quản lý sâu bệnh hại là yếu tố quan trọng để đảm bảo năng suất và chất lượng quế.

1.2. Giá trị kinh tế và sinh thái của rừng trồng quế

Rừng trồng quế không chỉ mang lại nguồn thu nhập ổn định từ vỏ, thân, và lá quế mà còn góp phần vào việc bảo tồn rừngphát triển nông nghiệp bền vững. Các sản phẩm từ quế như tinh dầu, vỏ quế, và gỗ quế có giá trị xuất khẩu cao, đóng góp vào nền kinh tế địa phương. Ngoài ra, rừng trồng quế còn có vai trò quan trọng trong việc giữ đất, giữ nước, và bảo vệ môi trường sinh thái.

II. Thực trạng và giải pháp phát triển rừng trồng quế tại Bảo Yên

Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng rừng trồng quế tại Bảo Yên, Lào Cai, nơi có diện tích trồng quế lớn nhất tỉnh. Kết quả cho thấy, mặc dù quế là cây trồng có tiềm năng kinh tế cao, nhưng việc quản lý và chăm sóc rừng trồng vẫn còn nhiều hạn chế. Các giải pháp kỹ thuật được đề xuất bao gồm việc cải thiện kỹ thuật trồng, quản lý sâu bệnh hại, và tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng.

2.1. Đánh giá thực trạng trồng và khai thác quế

Nghiên cứu chỉ ra rằng, diện tích rừng trồng quế tại Bảo Yên đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, đạt hơn 4.800 ha. Tuy nhiên, việc khai thác và chế biến quế vẫn còn manh mún, chưa tận dụng hết tiềm năng kinh tế. Các yếu tố như mật độ trồng, kỹ thuật chăm sóc, và quản lý sâu bệnh hại cần được cải thiện để nâng cao năng suất và chất lượng quế.

2.2. Đề xuất giải pháp kỹ thuật và quản lý

Để phát triển rừng trồng quế một cách bền vững, nghiên cứu đề xuất các giải pháp như: chọn giống quế có năng suất cao, áp dụng kỹ thuật trồng và chăm sóc tiên tiến, và tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng. Ngoài ra, việc phòng trừ sâu bệnh hại và bảo vệ môi trường cũng được nhấn mạnh như một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển rừng trồng quế.

III. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, rừng trồng quế tại Bảo Yên, Lào Cai có tiềm năng lớn trong việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Các giải pháp kỹ thuật được đề xuất không chỉ giúp nâng cao năng suất và chất lượng quế mà còn góp phần vào việc phát triển nông nghiệp bền vững. Việc áp dụng các giải pháp này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, nhà khoa học, và người dân địa phương.

3.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển rừng trồng quế mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân địa phương. Các giải pháp kỹ thuật được đề xuất có thể áp dụng rộng rãi tại các vùng trồng quế khác trên cả nước.

3.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các kỹ thuật canh tác tiên tiến, đồng thời tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng để đảm bảo sự phát triển bền vững của rừng trồng quế. Việc mở rộng diện tích trồng quế và nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật đề xuất phát triển rừng trồng quế cinnamomum cassia tại huyện bảo yên tỉnh lào cai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về cây Quế trên thế giới - Phân loại và thực vật học Chi Quế (tên khoa học: Cinnamomum) là một chi các loài thực vật thường xanh thuộc họ Nguyệt Quế (Lauraceae). Lá và vỏ cây các loài thuộc chi này có tinh dầu thơm. Chi này có khoảng hơn 300 loài, phân bố chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Á, châu Đại Dương và Australasia.

- Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và kỹ thuật gây trồng + Đặc điểm sinh vật học Quế (Cinnamomum cassia) là cây thường xanh được trồng rộng rãi ở miền Nam và miền Đông châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam). Cây cao từ 10-15 m, vỏ màu xám, lá thuôn dài từ 10-15 cm, trong các bộ phận của cây Quế như: Vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu. Hoa tự chùm, nhỏ màu trắng, quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1cm đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt. Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ lan rộng, đan chéo nhau.

Vì vậy, Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc. + Đặc điểm sinh thái học: Quế C.tamala phân bố ở hầu hết các vùng Himalaya nhiệt đới, cận nhiệt đới và mở rộng đến vùng Đông Bắc Ấn Độ, đến độ cao 2000 m. tamala được trồng ở vùng Khasi, Jaintia, đồi Garo của Meghalaya và vùng đồi Cachar Bắc của Assam (Cinnamom and cassia. Quế Inđonêsia có phân bố từ mặt biển đến độ cao 2000m.

Trung tâm trồng Quế là vùng Padang, ở độ cao từ 500 – 1300m. Một biến chủng của loài 5 này có lá non màu đỏ sinh trưởng ở độ cao hơn trong vùng núi Korintji (còn gọi là Kerinci). Loại này chất lượng tốt hơn và được buôn bán trên thị trường thế giới với tên gọi Quế Korintji (cinnamom and cassia. + Kỹ thuật gây trồng: Trên thế giới có nhiều nước trồng Quế rất thành công cho sản lượng và năng suất cao như ở Ấn Độ, cây được trồng với cự li 3m x 2m.

Cây con được gieo trên luống và trồng khi cây 4 – 5 tháng tuổi. Khi cây 8 – 10 tuổi được khai thác lá cho đến hàng trăm tuổi. Lá già được thu từ tháng 10 – 12 đến tháng 3 năm sau. Lá được thu hàng năm ở các cây trẻ và khỏe và luân phiên đối với cây già và yếu.

Lá thường được bó thành từng bó, phơi ngoài nắng, rồi đem bán. Sản lượng mỗi cây khoảng 9 – 19 kg/năm. Trồng teijat là một bộ phận trong hệ thống nông lâm kết hợp ở Ấn Độ (cinnamom and cassia. Rừng Quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng.

Ngoài chăm sóc về lâm sinh và phân bón, tác động duy nhất là tỉa các cành thấp ở thân cây. Phân bón được khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 40 – 100kg/ha tùy thuộc tuổi cây, nhưng người trồng Quế hiếm khi sử dụng phân bón (Akahil Baruah và Subhan C. - Giá trị sử dụng Dầu Quế được chiết xuất từ lá, vỏ cây, cành cây bằng cách chưng cất hơi nước. Các thành phần hóa học chính của dầu Quế là aldehyd cinnamic, cinnamyl acetate, benzaldehyde, linalool và chavicol.

Các đặc tính chữa bệnh của dầu Quế là chống đầy hơi, chống tiêu chảy, chống vi khuẩn và chống nôn. Dầu Quế được sử dụng cho các bệnh cảm lạnh, cúm, sốt, viêm khớp và thấp khớp…( http://www.za/essential- oils/cassia.htm) Vỏ Quế được dùng làm gia vị trong công nghiệp chế biến thực phẩm (ướp thịt, cá, làm bánh kẹo, sản xuất đồ hộp, nước giải khát). Tinh dầu từ vỏ và lá được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược phẩm và hoá mỹ phẩm. Tại 6 các nước châu Âu, tinh dầu từ vỏ Quế quan được dùng để uống với chè vì nó có đặc tính kích thích và diệt khuẩn.

Ngoài tinh dầu trong vỏ Quế còn chứa tanin, nhựa dầu (oleoresin), protein, pentosan, chất keo, xơ và các chất khoáng. Tinh dầu lá Quế thành phần chính là eugenol (70-95%), ngoài ra còn khoảng 50 hợp chất khác, trong đó các hợp chất có hàm lượng đáng kể là linalool, cinnamyl acetat, β- caryophyllen, (E)-cinnamic aldehyd, benzyl benzoat…. Do có hàm lượng eugenol cao, nên tinh dầu lá Quế quan được dùng làm nguyên liệu để chuyển hoá thành iso-eugenol và tổng hợp vanilin. Hạt chứa dầu béo (hàm lượng khoảng 30%) nên được dùng làm dầu thực phẩm tại Ấn Độ và Sri Lanka.

- Sâu bệnh hại Quế Johns và cộng sự (1961) đã nghiên cứu và phát hiện 3 loài sâu gây hại chính cho Quế ở miền Bắc nước Mỹ như: Sâu cuốn lá (Homona coficaria Niet), Sâu róm Quế (Dasvchira mendose Nunb), Sâu ăn lá (Attacus atlas L). Boror và cộng sự (1976) đã công bố một số loài sâu gây hại Quế như loài Bọ rầy (Pauropsylla depressa) chích hút chồi non gây ra các u bướu trên ngọn chồi. Rệp sáp (Linsoma stellifera Westw) chích hút gây úa vàng lá. Sâu non sâu vẽ bùa (Phyllocnistic chrysophthaline) đào những đường hầm trong lá Quế ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của lá.

Theo Singh và cộng sự (1978), ghi nhận tại Ấn Độ loài sâu Orthaga vitialis thuộc bộ Lepidoptera gây hại trên lá và chồi cây Quế , sâu non loài này hoạt động rất mạnh, loài sâu này sống và gây hại ở chồi cây làm chồi biến dạng dẫn đến chồi mọc thành cụm. Trong mỗi cụm chồi có thể có một vài sâu non, chúng sống thành đàn và ăn toàn bộ bề mặt lá. Giai đoạn nhộng thường nằm ở trong các cụm chồi. Còn loài sâu róm Euproctis fraterna ăn lá Quế, sâu non mới nở chỉ ăn phần diệp lục.

Sau đó sâu non lớn dần và ăn toàn bộ lá làm rụng lá. Chu kỳ sâu non loài này kéo dài trong 13-29 ngày và thời gian nhộng kéo dài 9-20 ngày. Tổng chu kỳ sống kéo dài 6-7 tuần. 7 Theo Rajapakse và Kulasekera (1982) Thành phần loài sâu hại trên cây Quế ở SriLanka như: Sâu ăn lá Attacus atlas, Agroploce aprobola, Rệp sáp Ceroplastes rubens, bọ xít chích hút chồi Quế Coptosoma pygmaeum, Leptocentrus obliquus, loài bọ xít Leucopholis pinguis.

Một số loài thuộc bộ cánh cứng gây hại trên lá và chồi cây Quế như: Cryptocephalus snillus, Cryptocephalus virgula và Podagrica badia Theo Rajapakse và Wasantha (2007) cây Quế trồng ở SriLanka và một số quốc gia khác ở Đông Nam Á đã bị một số loài côn trùng gây hại chính như: Rệp nhảy Trioza cinnamoni, nhện lông nhung Eriophyes boisi, sâu đục thân, cành Synanthedon spp. Các loài côn trùng loại nhỏ như: Sâu hại lá thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) như: Chilasa clytia, Graphium sarpedon, Orthaga vitialis, Dasychira mendosa. Sâu đục quả Alcides sp. Và sâu vẽ bùa Acrocercops spp.

Theo Vander và cộng sự (2004) đã chỉ ra 2 loài sâu gây hại Quế chính ở SriLanka là sâu hại lá Chilasa clytia và Graphium sarpedon. Loài Chilasa clytia sâu trưởng thành có kích thước lớn, đẻ trứng đơn lẻ ở cả mặt trên và dưới của lá non. Trứng có hình cầu, màu sáp và màu cam vàng. Sâu non màu đen hoặc xanh đen, ăn cả lá non và lá bánh tẻ, chúng ăn toàn bộ lá và chỉ chừa lại gân lá.

Sâu non tuổi lớn có màu vàng nhạt với sọc đen ở hai bên và có chiều dài khoảng 2,5 cm. Nhộng có hình trụ được bọc trong kén trông giống một cành củi gãy. Đối với loài sâu ăn lá Graphium sarpedon cũng là một loài sâu hại Quế phổ biến. Trưởng thành có màu đen với các hoa văn màu xanh đặc trưng.

Trứng được đẻ ở mặt dưới của lá, hình tròn có màu vàng nhạt. Theo Le (1992) loài Bọ xít (Pseudodoniella chinensis Zheng) gây hại trên cành bánh tẻ và gây chết cả cây Quế tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Trung Quốc. Dharmadasa và Jayasinghe (2000) phát hiện loài sâu (Synanthedon spp.) hại thân, cành Quế, làm cho các cành chết. Sâu non dài khoảng 2,5cm khi trưởng 8 thành, đầu màu nâu sẫm và thân màu trắng đậm.

Sâu non thường ăn phần gỗ để sống và có xu hướng ăn theo chiều ngang. Sâu trưởng thành, đẻ trứng vào các vết nứt hoặc vết thương trên vỏ cây và trứng nở trong khoảng 1- 4 tuần. Theo Amalendu và cộng sự (2014) loài sâu Cricula trifenestrata ăn lá hại một số loài cây thuộc họ Lauraceae, cụ thể như loài Cinnamomum glanduliferum, C. glaucescens ở Đông Bắc Ấn Độ, loài C.

zeylanicum ở vùng Đông Bắc Á và SriLanka, loài Persea bombycina ở vùng Đông Nam Ấn Độ, Nepal và loài Litsea cubeba ở Ấn Độ. Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu hại Quế Theo Singh và cộng sự (1978), phòng trừ loài sâu hại lá, chồi Orthaga vitialis và sâu ăn lá Euproctis fraterna thì cần thiết phải kiểm tra cắt tỉa các cụm chồi Quế bị sâu hại là biện pháp phòng trừ chủ yếu và phun thuốc trừ sâu Carbaryl (0.05%), từ đó có thể kiểm soát sâu hại trên cây Quế, việc phun thuốc được lặp lại trong khoảng 10-12 ngày hiệu quả đạt cao hơn. Devashayam và cộng sự (1993) chỉ ra rằng sâu đục lá Conopomorpha civica đã gây hại cho 20,2% số cây Quế tuổi nhỏ ở Kerala, Ấn Độ và phòng trừ loài sâu này bằng cách phun thuốc trừ sâu Quinalphos 0,05% ngay khi chúng vừa xuất hiện mới có hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự xâm nhập Theo Rajapakse and Wasantha (2007), việc phòng trừ sinh học cho các loài nhện gây u bướu lá Quế là rất khó khăn vì chúng sống và ăn trong các u của lá. Việc cắt tỉa thường xuyên có thể kiểm soát rệp Trioza và nhện Eriophyes.

Sử dụng thuốc monocrotophos, lannat (methomyl) và methamidiphos ở trên, ở giữa và ở gốc của cây trồng, việc sử dụng 30 ml monocrotophos/25 L trong khoảng thời gian 4 ngày làm giảm lượng u bướu đến mức thấp nhất. Quinalphos 0,05% hoặc Dimethoate 0,06% cũng được khuyến cáo sử dụng để kiểm soát lá và chồi bị u bướu. Nghiên cứu bệnh hại Quế 9 Ở Ấn Độ và SriLanka cho biết, Quế có thể bị các bệnh thối đen do nấm Phellinus lamaensi, mục trắng do Fomes lignosus, đốm khảm do nấm phấn hồng Corticium salmonicolor, thán thư do Glomerella cingulata và gỉ sắt do tảo Aecidium cinnamoni, Cephaleuros virescens, Diplodia spp. Cũng đã gặp một số loài sâu hại vỏ, chồi non và lá như Phyllocnistis chrysophthalma, Sorolopha archimedias, Acrocercops spp, Eriophyes bois, Eriophyes doctersi, Typhlodromus spp… Một số loài tuyến trùng như Meloidogyne spp….

xâm nhập từ đất vào rễ cũng có thể gây hại đối với các quần thể Quế (Akhtar Husain et al. Karunakaran and Chandrasekharan (1980) đã nghiên cứu bệnh đốm lá và khô cành ngọn cây Quế Cinnamomum Zeylanicum do nấm Collectotrichum gloeosporides.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp kỹ thuật phát triển rừng trồng quế Cinnamomum Cassia tại Bảo Yên, Lào Cai" cung cấp những thông tin quan trọng về các phương pháp kỹ thuật nhằm tối ưu hóa việc trồng quế, một loại cây có giá trị kinh tế cao. Tài liệu này không chỉ nêu rõ các kỹ thuật trồng trọt mà còn phân tích lợi ích kinh tế và môi trường của việc phát triển rừng quế, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về tiềm năng phát triển bền vững trong ngành nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp nông nghiệp bền vững, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, nơi trình bày các biện pháp canh tác hồ tiêu bền vững. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về kỹ thuật bón phân trong nông nghiệp. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật để nắm bắt các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay.