Chương 1 - Tổng quan về QLRBV và CCR, đánh giá chính thức và đánh giá hàng năm QLRBV và CCR: 29 trang Chương 2 - Điều kiện cơ bản CTLN Bến Hải: 10 trang Chương 3 - Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 16 trang 4 Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 85 trang; Phần Kết luận, tồn tại và kiến nghị: 4 trang Tài liệu tham khảo; Phụ lục. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG, ĐÁNH GIÁ CHÍNH THỨC VÀ GIÁM SÁT HÀNG NĂM QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỨNG THEO TIÊU CHUẨN CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ RỪNG THẾ GIỚI (FSC) 1. Nhận thức về quản lý rừng bền vững 1. Suy giảm tài nguyên rừng a) Sự suy giảm rừng th giới Diện tích rừng trên thế giới vào cuối thập kỷ 20 vào khoảng 4,06 tỷ ha, chiếm khoảng 32% diện tích tự nhiên toàn thế giới (Bảng 1.
Sự phân bố theo vùng nhiệt đới và ôn đới của diện tích rừng th giới Đơn vị tính: triệu ha Diện tích rừng Diện tích tự nhiên Diện tích % Toàn cầu 12.060 100,00 Vùng nhiệt đới 5.730 42,60 Vùng ôn đới 6.330 57,40 Tuy nhiên, chỉ trong vòng 10 năm (1990-2000) diện tích rừng của thế giới đã suy giảm đáng kể, nhất là các nước đang phát triển. Nếu lấy mốc độ che phủ của năm 1990 là 100% thì độ che phủ đã thay đổi theo hướng giảm, trong đó giảm mạnh nhất ở các nước đang phát triển (chỉ còn 93%), tức là giảm trung bình gần 1% mỗi năm (Hình 1.) % 106 104 102 Các nước phát triển:105% 98 Toàn cầu: 98% 96 Các nước đang PT: 93% 94 2000 Hình 1. So sánh tỷ lệ % sự thay đổi diện tích rừng th giới (1990-2000) Việc mất rừng đã gây lên những tác hại tiêu cực về môi trường, như mưa Axit tăng lên, nhiệt độ toàn cầu tăng lên, , diện tích hoang mạc tăng lên, và đa dạng sinh học toàn cầu bị suy giảm. 6 b) Sự thay đổi diện tích rừng ở Việt nam Khác với các nước trong khối đang phát triển, Việt Nam là một trong số ít nước có độ che phủ chung của rừng tăng lên, nhất là trong khoảng hơn 25 năm qua (kể từ năm 1990 đến nay) (Bảng 1.
Sự thay đổi diện tích rừng của Việt Nam và một số nƣớc trên th giới, giai đoạn 1990-2015 Diện tích rừng (1000 ha) Mức độ thay đổi hàng năm 1990 2000 2005 2010 2015 1990-2000 2000-2010 2010-2015 1990-2015 Quốc gia 1000 1000 1000 1000 % % % % ha/năm ha/năm ha/năm ha/năm Việt Nam 9363 11727 13077 14128 14773 236.1 Quốc (Nguồn: Global forest resources assessment 2015, FAO) Kết quả ở Bảng 1.2 cho thấy, diện tích có rừng ở Việt nam tăng lên trong 25 năm qua. Tuy nhiên, diện tích rừng ở Việt Nam tăng lên chủ yếu là do sự tăng lên nhanh của diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên mới phục hồi, đơn điệu về cấu trúc và kém về chất lượng, tính bền vững tự nhiên không cao. Trong khi đó, diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm khá rõ cả về số lượng và chất lượng (Hình 1.2: Sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên ở Việt Nam (Nguồn: http://www.vn/) Trong khi đó, nhu cầu gỗ công nghiệp cho nội địa và xuất khẩu của Việt Nam không ngừng tăng lên (Bảng 1. Sự gia tăng nhu cầu gỗ ở Việt Nam Đơn vị tính: 1000m3 Giai đoạn 2005 2010 2015 2020 Tổng 10.283 Trụ mỏ 90 120 160 200 Từ những vấn đề nêu trên, đã đòi hỏi Việt Nam phải tập trung vào quản lý rừng bền vững cả rừng trồng và rừng tự nhiên, nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trước mắt và đảm bảo tính ổn định, an toàn môi trường sinh thái trong tương lai.
Nhận thức về quản lý rừng bền vững Quan điểm về quản lý rừng bền vững đã được hình thành từ đầu thế kỷ thứ 18 với sự nhận thức: rừng không phải là tài nguyên vô tận và đang bị suy giảm nghiêm trọng. Ban đầu, quan điểm bền vững chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục. Cùng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và phát triển kinh tế-xã hội, quản lý rừng bền vững đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ thống sinh thái rừng và cuối cùng là quản lý rừng bền vững trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ, toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. Có nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề quản lý rừng bền vững, nhưng khái niệm được sử dụng nhiều nhất do ITTO (Hội đồng gỗ nhiệt đới quốc tế), như sau: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý rừng để đạt đượcmột hay nhiều mục tiêu cụ thể, xem xét đến việc phát triển sản xuất dịch vụ và sản phẩm lâm nghiệp đồng thời không làm giảm giá trị hiện có và ảnh hưởng đến năng suất sau này, cũng như không gây ra các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội” [7].
Các y u tố làm cơ sở quản lý rừng bền vững Quản lý rừng bền vững là một quá trình (Hình 1.3), và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, bao gồm: i) Khuôn khổ chính sách và pháp lý ii) Sản xuất lâm sản bền vững, iii) Bảo vệ môi trường, iv) Lợi ích con người; và v) Một số cân nhắc khác áp dụng cụ thể đối với rừng trồng và tập trung vào: Quá trình quản lý rừng bền vững được xác lập trên cơ sở thiết lập quyền sở hữu/sử dụng cho các thành phần kinh tế lâm nghiệp cho đến khâu cuối cùng là đánh giá, giám sát và cấp chứng chỉ. 9 Đánh giá quản lý rừng bền vững: tiến hành giám sát, cấp chứng chỉ ) Mở rộng, thúc đẩy quản lý rừng bền vững đối với khách hàng và các bên liên quan đến hoạt động rừng Công cụ: sử dụng linh hoạt phương cách „thưởng và phạt‟ cho việc áp dụng quản lý rừng bền vững Chính sách, chính sách lâm nghiệp, các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và quy định pháp luật Vai trò của các tổ chức trong lâm nghiệp và sử dụng đất cần được đàm phán và phát triển Sự thành lập Quyền sở hữu / chiếm hữu và quy định pháp lý Điều kiện thị trường và đầu tư Cơ chế của các thoả thuận mang ảnh hưởng liên ngành Sự nhận thức của các cơ quan chủ quản rừng (nhà nước, các đơn vị xã hội và khu vực tư nhân) Hình 1. Lƣợc tả quá trình quản lý rừng bền vững 1. Phát triển bền vững và QLRBV trên th giới, đánh giá QLRBV và giám sát thực hiện sau khi đƣợc CCR của FSC 1.
Về phát triển bền vững Những ý tưởng hàm ý phát triển bền vững sớm xuất hiện trong xã hội loài người nhưng phải đến thập niên đầu của thế kỷ XVIII, và chuyển hoá thành hành động và cao hơn là phong trào xã hội. Tiên phong cho các trào lưu này phải kể đến giới bảo vệ môi trường ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Uỷ ban bảo vệ môi trường Canada được thành lập năm 1915, nhằm khuyến khích con người tôn trọng những quy luật tự nhiên và cho rằng mỗi thế hệ có quyền khai thác lợi ích từ nguồn vốn thiên nhiên, nhưng nguồn vốn này phải được duy trì nguyên vẹn cho những thế hệ tương lai để họ hưởng thụ và sử dụng theo một cách thức tương tự. Trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới bảo vệ 10 động vật hoang dã", tại Hội nghị Paris (Pháp) năm 1928, Paul Sarasin - nhà bảo vệ môi trường Thụy Sĩ đã đề cập đến việc cần phải bảo vệ thiên nhiên.
Mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế từ sau đại chiến thế giới II. Các tổ chức này đã phối hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra chương trình hành động hướng các quốc gia phát triển theo mô hình bền vững. Năm 1951, UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lưu ý với tiêu đề "Thực trạng bảo vệ môi trường thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50". Tài liệu này được cập nhật vào năm 1954 và được coi là một trong số những tài liệu quan trọng của "Hội nghị về môi trường con người" (1972) do Liên hiệp quốc tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) và cũng được xem như là "tiền thân" của báo cáo Brundtland [6].
Đến đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO với khái niệm đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Tuy nhiên, khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) năm 1987. Theo Brundtland "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật.
Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ. Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáo Brundtlanđ với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường, mà còn phát triển kinh tế - xã hội. Nội dung khái niệm này còn 11 bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội. Kể từ khi khái niệm này xuất hiện, nó đã gây được sự chú ý và thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại.