ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm loét dạ dày tá tràng (VLDDTT) là một bệnh mạn tính khá phổ biến trên thế giới cũng như Việt Nam. Theo Tổ chức y tế Thế giới WHO tính đến năm 2020, có khoảng 5-10 % dân số trên thế giới bị VLDDTT [1], [50]. Ở Việt Nam, theo Hội khoa học Tiêu hóa, bệnh VLDDTT cũng có tỷ lệ mắc khá cao tới 26% dân số mắc bệnh và khoảng 70 % dân số nước ta có nguy cơ mắc [4]. VLDDTT không những gây khó chịu, gây đau, mệt mỏi ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người bệnh mà hơn thế nữa, nếu không chữa trị kịp thời sẽ gây ra các biến chứng nghiêm trọng như xuất huyết dạ dày, ung thư dạ dày hay thậm chí là tử vong có thể xảy ra.
Hiện nay, các thuốc Hóa dược đã có những đóng góp đáng kể trong điều trị VLDDTT, có phác đồ điều trị chuẩn cùng với nhiều loại thuốc và thế hệ thuốc mới ra đời. Tuy nhiên, bên cạnh tác dụng điều trị, các thuốc tân dược gây ra những tác dụng không mong muốn như đau đầu, buồn nôn, tiêu chảy, táo bón … và có thể gặp những tương tác bất lợi khi kết hợp dùng thuốc nên đến nay nhiều người vẫn ngại dùng. Trong khi đó, các thuốc có nguồn gốc từ thảo dược thường có tác dụng êm dịu, an toàn, ít tác dụng không mong muốn, đồng thời có thể hỗ trợ điều trị và giảm bớt nhu cầu dùng thuốc tân dược trong một số trường hợp, và giá thành hợp lý hơn. Chính vì vậy, xu hướng lựa chọn sử dụng các thuốc có nguồn gốc thảo dược trong điều trị bệnh là cần thiết không chỉ ở Việt Nam mà là nhu cầu của nhiều nước trên Thế giới.
Bài thuốc dạ dày YB có tên gọi khác là Hội thương tán. Đây là một trong những bài thuốc Cổ phương được ghi lại từ sách “Thiên gia diệu phương” bao gồm 6 vị thuốc: Bạch cập, Cam thảo, Diên hồ sách, Bối mẫu, Đại hoàng, Ô tặc cốt có công năng hoạt huyết hóa ứ, chế toan, chỉ thống, trị khí trệ, huyết ứ, giảm acid dạ dày, giảm đau [6] dùng để điều trị VLDDTT. Tuy nhiên, cách sử dụng bài thuốc này theo dân gian chưa tiện lợi cho người bệnh nên việc nghiên cứu bào chế phương thuốc thành dạng bào chế hiện đại là cần thiết. Trong đó, dạng điều chế cao khô bán thành phẩm với mục đích giảm thiểu liều dùng, tạo thuận lợi cho bào chế các dạng thuốc hiện đại tiện lợi hơn như là viên nén, viên nang.
Tuy nhiên, cao khô Bài thuốc dạ dày YB chưa có tiêu chuẩn chất lượng. Chính vì vậy, việc khảo sát một số chỉ tiêu chất lượng của cao khô nhằm tiêu chuẩn hoá dạng bào chế này là cần thiết. Từ những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu điều chế và khảo sát một số chỉ tiêu chất lượng của cao chiết bài thuốc dạ dày YB” được nghiên cứu với các mục tiêu: - Điều chế cao khô bài thuốc dạ dày YB. - Khảo sát định tính các vị thuốc trong cao khô bài thuốc dạ dày YB bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng.
- Định lượng militarin trong cao khô bài thuốc dạ dày YB bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Tổng quan về Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng 1. Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng theo quan điểm Y học hiện đại Viêm dạ dày được định nghĩa là tình trạng viêm xảy ra tại các tế bào niêm mạc dạ dày [4], [7], [13]. Loét dạ dày – tá tràng là bệnh mạn tính, diễn biến có tính chu kỳ, đặc trưng bởi tình trạng có sự hiện diện của tổn thương loét trên niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng [7], [15], [42].
Nguyên nhân gây bệnh và cơ chế bệnh sinh 1. Nguyên nhân - Vi khuẩn Helicobacter pylori (H.p): có mặt ở 70 – 90 % bệnh nhân VLDDTT [42]. - NSAID và corticoid: đã được chứng minh gây VLDDTT, với nguy cơ loét dạ dày cao hơn tá tràng [7], [15], [13]. Cơ chế bệnh sinh Bình thường, niêm mạc dạ dày tá tràng tồn tại được và quá trình tiêu hóa được tiếp diễn bình thường chính là nhờ sự cân bằng của quá trình bảo vệ (yếu tố chống loét) và tấn công (yếu tố gây loét) [4], [7], [13], [15].
Các yếu tố bảo vệ và tấn công tác động đến sinh lý của dạ dày tá tràng được trình bày ở bảng sau: Bảng 1. Các yếu tố bảo vệ và yếu tố tấn công đến sinh lý dạ dày tá tràng Yếu tố bảo vệ Yếu tố tấn công Lớp nhầy Acid HCl và pepsin dịch vị Muối kiềm bicarbonate Vi khuẩn Helicobacter pylori (H.p) Các thuốc chống viêm không steroid Hệ thống mao mạch dưới niêm mạc (NSAIDs) và corticoid Sự toàn vẹn và tái tạo của tế bào biểu mô Các yếu tố nguy cơ khác: chất kích thích, và bề mặt niêm mạc dạ dày – tá tràng di truyền, stress, … Nếu mất sự cân bằng giữa yếu tố bảo vệ và yếu tố tấn công, trong đó yếu tố tấn công ưu thế hơn và/hoặc yếu tố bảo vệ suy giảm sẽ dẫn đến hậu quả gây loét dạ dày tá tràng. Triệu chứng lâm sàng a. Viêm loét dạ dày [7], [13],[4], [15] - Đau ở vùng thượng vị, đau có tính chất chu kỳ từng đợt và đau sau khi ăn.
- Đầy bụng, ợ hơi, ợ chua và buồn nôn, nôn. - Thăm khám lâm sàng trong cơn đau có thể thấy: o Co cứng vùng thượng vị. 2 o Ấn điểm thượng vị cảm giác đau sẽ tăng lên (điểm thượng vị được xác định trung điểm của đường nối rốn và mũi ức). Viêm loét tá tràng [4], [15], [13], [7] - Thường đau vào lúc đói hoặc ban đêm, đau quặn thắt, đau ở thượng vị sang phải.
- Nôn, buồn nôn ngay cả lúc đói. - Thăm khám lâm sàng trong cơn đau có thể thấy: o Co cứng vùng thượng vị. o Ấn điểm môn vị cảm giác đau tăng lên (điểm môn vị được xác định là điểm thượng vị lệch sang bên phải khoảng 2 cm). Điều trị Mục tiêu của việc điều trị loét dạ dày tá tràng là giảm đau, làm lành vết loét, ngăn ngừa tái phát và giảm các biến chứng liên quan đến vết loét.
Vì vậy, hiện nay các thuốc thường được sử dụng trong điều trị loét dạ dày tá tràng là: thuốc kháng acid dịch vị, thuốc ức chế tiết acid dịch vị, thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày, thuốc diệt vi khuẩn H. - Thuốc kháng acid dịch vị (antacid): Bao gồm: các muối và hydroxyd của nhôm, magnesi, calci. Các biệt dược như: Alusi, Phosphalugel, Almagel, Maalox,. - Thuốc ức chế tiết acid dịch vị: Thuốc kháng thụ thể H2 của Histamin: cimetidin, ranitidin, famotidin và nizatidin.
Thuốc ức chế bơm proton H+/K+-ATPase (PPIs): omeprazol, pantoprazol, lansoprazol, rabeprazol, esomeprazol,. - Thuốc tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày: Thuốc bảo vệ niêm mạc và băng bó ổ loét: sucralfat. Thuốc kích thích tiết nhầy, tái tạo tế bào biểu mô: misoprostol. - Thuốc diệt vi khuẩn Helicobacter pylori (H.p): Loại bỏ vi khuẩn Helicobacter pylori được khuyến cáo trong tất cả bệnh nhân có H.p dương tính, đặc biệt là ở những bệnh nhân có vết loét đang hoạt động, tiền sử bị loét trước đó hoặc tiền sử liên quan đến loét có biến chứng.
Các thuốc thường dùng để diệt vi khuẩn H. + Kháng sinh: amoxicillin, tetracyclin, clarithromycin, levofloxacin. + Dẫn xuất 5-nitro imidazol: metronidazol, tinidazol. Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng theo quan điểm Y học cổ truyền Theo quan điểm Y học cổ truyền, bệnh viêm loét dạ dày tá tràng thuộc phạm vi chứng vị quản thống, vị thống.
Vị quản thống hay còn gọi là vị thống, là chỉ các bệnh mà có triệu chứng đau tức sinh ra ở vùng thượng vị dưới mũi ức [2]. Nguyên nhân gây bênh Nguyên nhân gây bệnh là do tình chí bị kích thích dẫn đến can khí uất kết, mất khả năng sơ tiết, làm rối loạn khí cơ thăng thanh, giáng trọc của tỳ vị mà gây ra các triệu chứng như đau vùng thượng vị, ợ hơi, ợ chua,. hoặc do ăn uống thất thường làm cho tỳ vị tổn thương, mất khả năng kiện vận, hàn tà nhân đó xâm nhập gây khí trệ, huyết ứ, sinh ra các cơn đau [1], [2]. Thể can khí phạm vị Còn gọi là can vị bất hòa, can khắc tỳ, can mộc khắc tỳ thổ, … thường chia làm 3 thể nhỏ [1], [2].
Thể khí trệ (khí uất) [1], [2] - Triệu chứng: đau vùng thượng vị từng cơn, đau lan ra hai mạng sườn xuyên ra sau lưng, bụng đầy chướng, ấn thấy đau, ợ hơi, ợ chua, chất lưỡi hơi đỏ, rêu lưỡi trắng hoặc vàng mỏng, mạch huyền. - Phương pháp chữa: hoà can lý khí (sơ can giải uất, sơ can hoà vị). Thể hỏa uất [1], [2] - Triệu chứng: đau vùng thượng vị nhiều, đau rát, ấn thấy đau, miệng khô đắng, hay ợ chua, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền, sác. - Phương pháp chữa: sơ can tiết nhiệt (thanh can hoà vị).
Chia làm 2 loại: - Thực chứng: nôn ra máu, đại tiện phân đen, môi đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác hữu lực (bệnh thể cấp). - Hư chứng: sắc mặt xanh nhợt, người mệt mỏi, chân tay lạnh, môi nhạt, chất lưỡi bệu có điểm huyết ứ, rêu lưỡi nhuận, mạch hư đại hoặc tế sác (bệnh thể hoãn). - Phương pháp chữa: o Thực chứng: thông lạc hoạt huyết hay lương huyết chỉ huyết. o Hư chứng: bổ huyết chỉ huyết.
Thể tỳ vị hư hàn - Triệu chứng: đau vùng thượng vị liên miên, nôn nhiều, mệt mỏi, thích xoa bóp và chườm nóng, đầy bụng, nôn ra nước trong, sợ lạnh, tay chân lạnh, đại tiện phân nát, có lúc táo, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhợt, mạch hư tế. - Phương pháp chữa: ôn trung kiện tỳ (ôn bổ tỳ vị, ôn vị kiện trung) [1], [2]. Bài thuốc dạ dày YB 1. Nguồn gốc và xuất xứ của bài thuốc dạ dày YB Ở Việt Nam, bài thuốc dạ dày chúng tôi nghiên cứu có nguồn gốc từ Yên Bái.
Nhưng khi tra cứu tài liệu tham khảo nước ngoài, nhận thấy bài thuốc có tên gọi là “Hội 4 thương tán” được ghi chép trong cuốn sách “Thiên gia diệu phương” (Những bài thuốc đông y hay của muôn nhà) với liều lượng như sau [6]: Bạch cập: 60 g Diên hồ sách: 30 g Bối mẫu: 30 g Đại hoàng: 30 g Cam thảo: 100 g Ô tặc cốt: 60 g Cách dùng và đường dùng: các vị đều đem tán mịn, khi uống đem trộn với lượng tương đương đường trắng, lúc đầu uống ngày 3 lần, mỗi lần 3g; tùy theo triệu chứng bệnh giảm đi mà chuyển thành mỗi ngày 2 lần hoặc 1 lần, mỗi lần vẫn uống 3g; uống lúc đói, trước bữa ăn [6].