MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thỏ là loài động vật cung cấp nhiều nguồn sản phẩm hàng hoá có giá trị. Thịt thỏ là loại thực phẩm dễ tiêu hoá, thơm ngon, có hàm lượng protein cao (21,5%), mỡ thấp (6,5 - 7,7%), lại có tác dụng điều dưỡng một số bệnh cho con người. Lông, da thỏ là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu như mũ, áo len, đồ trang sức và mỹ nghệ, ngoài ra thỏ còn là động vật được sử dụng nhiều trong thí nghiệm (Nguyễn Quang Sức, (1994) [28].
Chăn nuôi thỏ có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng. - Thỏ mắn đẻ, lại không tranh chấp lương thực với người, có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất ra những mặt hàng quý giá. - Nuôi thỏ không cần nhiều vốn đầu tư, có thể sử dụng được nguồn nhiên liệu sẵn có ở địa phương, tạo thêm việc làm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nhân dân…Nuôi thỏ không những góp phần cải thiện bữa ăn mà còn có thể giúp người nông dân thoát nghèo. Song song với những ưu điểm đó thì những bệnh tật ở thỏ cũng gây thiệt hại đáng kể, trong đó cầu trùng là một bệnh phổ biến nhất.
Bệnh do đơn bào giống Eimeria gây nên, các triệu chứng điển hình của bệnh là giảm ăn, suy nhược, rối loạn tiêu hóa, viêm mũi, viêm mí mắt, thiếu máu (Lê Văn Năm, 2006 [24]). Đánh giá về tác hại của bệnh, Johan và cs (1988) [53] cho biết: “Bệnh có thể làm thỏ hấp thụ thức ăn kém hơn 7 - 8% và tăng trọng thấp hơn 40 - 350g trong suốt thời gian vỗ béo, cuối cùng làm thỏ chết”. Bệnh cầu trùng thỏ có thể phát sinh thành những ổ dịch lớn có tính chất hủy diệt gây ra những thiệt hại to Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, tỷ lệ chết lên tới 70 - 100% (Phạm Sỹ Lăng, 2006) [16]. Những năm gần đây, nghề chăn nuôi thỏ ở Hải Phòng khá phát triển.
Trong khi đó việc nghiên cứu về tình hình nhiễm cầu trùng thỏ và vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở thỏ tại Hải Phòng chưa được chú ý, vì vậy cũng chưa có biện pháp phòng trị cầu trùng cho thỏ. Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi thỏ ở thành phố Hải phòng chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng đường tiêu hoá thỏ ở thành phố Hải Phòng và biện pháp phòng trị”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu bệnh cầu trùng đường tiêu hoá thỏ để có cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng thỏ ở các huyện, quận của thành phố Hải Phòng có hiệu quả cao, từ đó xây dựng quy trình phòng trị bệnh cầu trùng cho thỏ. Ý nghĩa khoa học * Ý nghĩa khoa học Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về bệnh cầu trùng thỏ ở thành phố Hải Phòng.
* Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Xây dựng được quy trình phòng trị bệnh cho thỏ có hiệu quả. Từ đó, góp phần hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở thỏ, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi thỏ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Cầu trùng là động vật đơn bào có hình tròn, hình trứng, hình bầu dục (phụ thuộc vào từng loài cầu trùng). Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả ở người.
Phân loại cầu trùng ở gia súc, gia cầm chủ yếu dựa vào đặc điểm về hình thái, kích thước, màu sắc, vị trí kýsinh, thời gian sinh bào tử [75]. Cầu trùng giống eimeria ký sinh ở thỏ 1. Thành phần loài cầu trùng thỏ Theo Kolapxki N. (1980) [39], vị trí của cầu trùng trong hệ thống động vật nguyên sinh như sau: Ngành Protozoa Lớp Sporozoa Lớp phụ Coccidiomorpha Bộ Coccidia Họ Eimeridae Giống Eimeria Loài Eimeria stiedae (Lindemann, 1864) Eimeria perforans (Leuckart, 1879) Eimeria media (Kessel, 1929) Eimeria magna (Perard, 1925) Eimeria irresidua (Kessel và Jankiewicz, 1931) Eimeria coecicola (Cheissin, 1947) Eimeria intestinalis (Kheisin, 1948) Eimeria exigua (Yakimoff, 1934) Giống Isospora Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã phát hiện được 25 loài Eimeria ký sinh và gây bệnh cho thỏ.
và cs (1998) [68], tỷ lệ các loài cầu trùng gây bệnh cho thỏ như sau: E. Có 90% thỏ bị nhiễm 2 hoặc 3 loài cầu trùng. và cs (2003) [49] đã kiểm tra 254 thỏ hoang tại Pháp phát hiện thấy 10 loài cầu trùng ký sinh là: E. Ở Brazil, De Almeida A.
và cs (2006) [41] cho biết, có 10 loài cầu trùng ký sinh ở thỏ giống thịt là E. stiedae và tỷ lệ nhiễm chung là 81,82%. Theo Lê Văn Năm (2006) [24], có ít nhất 5 loài cầu trùng ký sinh và gây bệnh cho thỏ là: E. Nguyễn Hữu Hưng và cs (2008) [11] đã xác định có 5 loài cầu trùng ký sinh trên thỏ nuôi tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng là: E.
Đặc điểm, hình thái, kích thước các loài cầu trùng thỏ đã được nghiên cứu Eimeria stiedae (Lindemann, 1864; Kisskalf và Hartmann, 1907) Các nang trứng hình bầu dục hay hình elip mầu vàng nâu, vỏ nang trứng trơn nhẵn, có lỗ noãn ở phần hẹp của nang trứng. Sau giai đoạn sinh sản bào tử trong nang trứng và trong bào tử có những thể cặn. Kích thước nang trứng 31- 42 x 17 - 25µm, trung bình là 37 x 20 µm. Sinh bào tử kéo dài tối đa là 3 - 4 ngày.
Chu kỳ nội sinh tiến triển trong biểu bì ống dẫn mật Eimeria perforans (Leuckart, 1879; Sluiter và Swllengrebel, 1912) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nang trứng có dạng elip hay tròn. Lỗ noãn trông rõ ở những nang trứng lớn, còn nang trứng bé thì không rõ. Vỏ nang trứng không mầu, kích thước 15 - 30 x 11 - 20 µm. Loài cầu trùng này thường hay gặp nhất trong ruột thỏ.
Sau thời kỳ sinh bào tử các thể cặn hình thành trong nang trứng và trong bào tử. Thời gian sinh bào tử 24 - 48 giờ. Eimeria media (Kessel, 1929) Nang trứng hình bầu dục, có thể có dạng elip. Lỗ noãn trông rất rõ có thể thấy bề dầy lớp vỏ ngoài.
Vỏ nang trứng mầu vàng sáng hay nâu vàng, kích thước 19 - 37 x 13 - 22 µm. Sau thời kỳ sinh bào tử, các thể cặn hình thành trong nang trứng và trong bào tử. Thời gian sinh bào tử là 2 - 3 ngày. Cầu trùng phát triển nội sinh trong tá tràng và phần trên ruột non.
Eimeria magna (Perard, 1925) Nang trứng hình bầu dục, lỗ noãn trông rất rõ, trong lỗ noãn thấy được vỏ ngoài đầy. Vỏ nang trứng mầu vàng da cam hay nâu. Sau thời kỳ sinh bào tử có thể cặn trong nang trứng và bào tử. Kích thước nang trứng 27 - 41 x 17 - 29 µm.
Thời gian sinh sản bào tử từ 3 - 5 ngày. Phát triển nội sinh ở phần giữa và phần dưới ruột non. Đôi khi các bào tử loài này còn thấy trong manh tràng và trực tràng. Eimeria irresidua (Kessel và Jankiewicz, 1931) Các nang trứng hình elip hay bầu dục, phần cuối nang trứng mở rộng ở đó có lỗ noãn.
Nang trứng mầu nâu sáng hay nâu tối. Kích thước 35 - 42 x 19 - 28 µm, trung bình là 38 x 23 µm. Sau thời kỳ sinh sản bào tử chỉ trong bào tử có thể cặn, thời gian sinh bào tử là 3 - 4 ngày. Chu kỳ phát triển nội sinh ở phần giữa ruột non.
Eimeria piriformis (Kotlan và Pospesch, 1934) Nang trứng hình quả trứng hay hình quả lê, mầu nâu vàng. Ở phần hẹp của nang trứng có lỗ noãn trông rất rõ. Kích thước nang trứng 26 - 33 x 15 - 21 µm, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trung bình là 29 - 32 x 18 - 19 µm. Chỉ có thể cặn trong bào tử sau khi sinh bào tử.
Phát triển nội sinh trong ruột già, chủ yếu là những khe biểu bì. Thời gian sinh bào tử 2 - 6 ngày. Eimeria coecicola (Cheissin, 1947) Trong một thời gian dài người ta coi cầu trùng này như loài Eimeria magna hay Eimeria media, sau những nghiên cứu của Khâyxin E. (1967) cho thấy các nang trứng của Eimeria coecicola khác với hai loài kể trên về mặt hình thái và sinh vật học.
Nó có hình trụ hay hình bầu dục. Lỗ noãn trông rất rõ. Nang trứng mầu vàng sáng hay nâu sáng. Kích thước 25,3 - 39,9 x 14,6 - 21,3 µm, trung bình là 33,1 - 35,5 x 16,9 - 19,6 µm.
Hình thành thể cặn trong bào tử và nang trứng sau thời kỳ sinh sản bào tử. Thời gian sinh bào tử gần 3 ngày. Cầu trùng phát triển nội sinh ở phần dưới ruột non. Các giao tử cầu trùng này có thể gặp cả trong manh tràng.
Eimeria intestinalis (Kheisin, 1948) Loài cầu trùng này trước đây người ta coi như Eimeria pirifomis, sau đó Khâyxin E. (1967) phân nó thành một loài độc lập. Nang trứng Eimeria intestinalis có dạng quả lê hay quả trứng, lỗ noãn trông rất rõ, xung quanh có màng dầy, mềm. Vỏ nang trứng mầu nâu sáng hay vàng sáng.
Kích thước 21 - 36 x 15 - 21 µm, trung bình 27 - 32 x 17 - 20 µm. Thời gian sinh bào tử từ 1 - 6 ngày, sau thời kỳ sinh sản bào tử cầu trùng sinh sản nội sinh trong biểu bì nhung mao, các khe ở phần dưới ruột non và ruột già. Eimeria exigua (Yakimoff, 1934) Nang trứng có dạng hình tròn hoặc hình bầu dục. Vỏ nang trứng màu vàng nhạt hoặc không mầu.
Kích thước 12 - 21 x 10 - 18 µm. Thời gian hình thành bào tử là 36 - 48 giờ. Sau thời kỳ sinh sản bào tử, cầu trùng sinh sản nội sinh trong biểu bì ruột non Eimeria flavescens (Marotel and Guilhon, 1941) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Loài này gây bệnh rất nặng cho thỏ. Ký sinh ở đoạn ruột non, manh tràng và kết tràng.
Oocyst có hình trứng, kích thước 25 - 37 x 14 - 24 µm với hai lớp vỏ. Lớp ngoài nhẵn mầu vàng dầy 1,4 µm. Lớp trong sậm mầu dầy 0,4 µm với Micropyle nhô lên ở đầu rộng.