CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN PHỤC VỤ QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Tổng quan các hướng nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên phục vụ quản lý và định hướng phát triển 1. Hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp Hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp dựa trên kết quả đánh giá tổng hợp (ĐGTH) điều kiện tự nhiên (ĐKTN) và tài nguyên (TN) phục vụ phát triển (PT) đã được thực hiện trong nhiều công trình nghiên cứu [29, 41, 47, 48, 82, 86] và đã đạt được những thành tựu to lớn trong PT kinh tế - xã hội (KT-XH) của nhiều vùng lãnh thổ khác nhau.
Hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp được đề cập nhằm xác định được mối quan hệ và sự thay đổi của các thành phần tự nhiên, môi trường (MT) với các hoạt động của con người trong quá trình khai thác, sử dụng lãnh thổ để đưa ra định hướng PT hợp lý và bền vững. Hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp được thể hiện trên một số lĩnh vực sau: - Đánh giá đất và phân hạng đất đai phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp: Từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, công tác đánh giá đất đai đã phục vụ tích cực cho việc quy hoạch, hoạch định chính sách và sử dụng hợp lý đất đai ở nhiều nước như Hoa Kỳ, Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu. Năm 1972, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) đã đưa ra dự thảo đầu tiên về phương pháp đánh giá đất đai, sau đó dự thảo này được các chuyên gia hàng đầu của FAO biên soạn lại và hình thành phương pháp đánh giá đất đai đầu tiên của FAO được công bố vào năm 1976 [124]. Sau đó, nhiều tài liệu về đánh giá đất đai cho từng đối tượng chuyên biệt cũng đã được xuất bản.
Ở Việt Nam, từ khoảng năm 1980 đến nay, nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai phục vụ cho PT nông lâm nghiệp đã được thực hiện với việc sử dụng phương pháp của Thế giới, đặc biệt của FAO [64, 106]. Theo hướng này, các đơn vị đất đai (land unit), sinh thái cảnh (site unit) là những địa tổng thể không đầy đủ dùng làm cơ sở để đánh giá phân hạng đất đai trong nông nghiệp, quy hoạch và PT cây trồng lâm nghiệp. - ĐGTH điều kiện địa lý cho PT du lịch: Trên quan điểm địa lý tổng hợp, các nhà địa lý Liên Xô (cũ) đã thực hiện các các nghiên cứu về sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch, xây dựng các vùng 7 z nghỉ mát ven biển; Các nhà địa lý Pháp tập trung nghiên cứu sâu về các điểm du lịch, dòng du lịch hoặc chính sách không gian du lịch; các nhà địa lý Mỹ với các nghiên cứu về đề xuất các nguyên tắc, phương pháp vận dụng vào việc tổ chức không gian du lịch cho các lãnh thổ. Ở Việt Nam, công tác đánh giá ĐKTN cho PT du lịch cũng đã được áp dụng rộng rãi trên nhiều vùng lãnh thổ.
Các nghiên cứu đều nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng (tốt, trung bình, kém) của các ĐKTN đối với hoạt động du lịch nói chung hay đối với từng loại hình du lịch, từng lĩnh vực hoạt động du lịch cụ thể nói riêng. Phương pháp đánh giá không chỉ đơn thuần đánh giá ĐKTN, TN du lịch mà còn đánh giá cả các điều kiện để khai thác TN đó. - Các nghiên cứu địa lý tổng hợp ở các vùng biển, đảo: Các nghiên cứu địa lý mang tính tổng hợp về biển, đảo cũng đã được thực hiện từ những năm 1960, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổng hợp. Những công trình đánh giá cho các mục đích ứng dụng cụ thể mới chỉ bắt đầu từ những năm 1990 trở lại đây.
Nhìn chung, các nghiên cứu đã thực hiện điều tra, đánh giá toàn bộ hệ thống đảo ven bờ Việt Nam cho các mục đích an ninh quốc phòng, di dân kinh tế mới, du lịch, dịch vụ biển… [1]. Nghiên cứu cơ sở lý luận về PT kinh tế - sinh thái hải đảo cũng đã được đặt ra và bước đầu đã xây dựng được một mô hình kinh tế - sinh thái trên các đảo [102]. Bên cạnh đó, vấn đề nghiên cứu ứng dụng theo hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp và áp dụng phương pháp ĐGTH cho các mục tiêu PT đối với một huyện đảo cũng đã được triển khai thực hiện [32, 33]. Trong phạm vi khu vực nghiên cứu của luận án, đề tài: "Xây dựng luận cứ khoa học cho việc quy hoạch khai thác sử dụng hợp lý TN, bảo vệ MT phục vụ PT kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa (QĐTS)", do Viện Địa lý chủ trì đã ĐGTH ĐKTN, tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và MT trên ba đảo lựa chọn là Trường Sa, Nam Yết và Ðá Tây.
Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp khoa học - kỹ thuật khai thác sử dụng hợp lý TN, bảo vệ MT, góp phần giữ vững chủ quyền của Việt Nam trên QĐTS. Hướng nghiên cứu cảnh quan và đánh giá cảnh quan Nghiên cứu cảnh quan (CQ) đã được đặt nền móng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong các công trình nghiên cứu địa lý. Sự phân chia địa lý tự nhiên bề mặt Trái Đất của các nhà địa lý Nga và các nhà địa lý Anh, Mỹ, Pháp… dẫn đến việc hình thành học thuyết về các quy luật phân hóa lớp vỏ địa lý và lúc đó CQ được xác định như một đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới (A. Ixatsenko, 1953, được trích dẫn trong Phạm Hoàng Hải 8 z và nnk, 1997 [29]).
Trong khoa học địa lý tồn tại ba quan niệm về CQ khác nhau được áp dụng để chỉ các hình thức CQ khác nhau [49]: Theo quan niệm chung thì CQ đồng nghĩa với tổng thể tự nhiên - lãnh thổ, địa tổng thể tự nhiên hay địa hệ tự nhiên của một cấp bất kỳ. Theo quan niệm kiểu loại, CQ là sự phối hợp, thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên như một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, được xem xét không phụ thuộc vào phạm vi lãnh thổ phân bố. Theo quan niệm cá thể, CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, có nội dung xác định và chỉ tiêu rõ ràng, thể hiện mối quan hệ tương hỗ của các hợp phần tự nhiên trong một lãnh thổ nhất định. Dù là quan niệm nào cũng đều nhằm phân chia tự nhiên - lãnh thổ thành những đơn vị địa tổng thể tự nhiên.
Tuy nhiên, hai quan niệm sau được các nhà nghiên cứu chuyên ngành CQ sử dụng, trong đó phổ biến là quan niệm kiểu loại đã và đang được sử dụng nhiều hơn cả trong các nghiên cứu CQ [29]. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tổng hợp áp dụng đối với CQ trong giai đoạn hiện nay đã cho thấy, sự PT của CQ học ứng dụng không chỉ đưa khoa học CQ dừng lại ở nghiên cứu cấu trúc CQ, vạch ra các đơn vị CQ mà còn tiến tới nghiên cứu cấu trúc, chức năng và đánh giá chúng để phục vụ PT kinh tế lãnh thổ, sử dụng hợp lý TN và bảo vệ MT [49]. Điều này đã được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau [5, 85, 107]. Sự PT của công tác nghiên cứu cơ sở địa lý tự nhiên (ĐLTN) theo hướng nghiên cứu CQ và đánh giá CQ cũng đi từ đơn giản đến phức tạp, từ đánh giá thành phần đến ĐGTH và được thực hiện theo các khía cạnh khác nhau: thích nghi sinh thái (mức độ thuận lợi), hiệu quả kinh tế, ảnh hưởng MT và ảnh hưởng xã hội, trong đó đánh giá thích nghi sinh thái được áp dụng rộng rãi hơn [42].
Nội dung của đánh giá thích nghi sinh thái là xác định mức độ thích nghi hay phù hợp của các địa tổng thể hay các CQ đối với đối tượng quy hoạch PT. Đánh giá kinh tế là xác định hiệu quả kinh tế, hiệu quả đầu tư cho các dạng sử dụng CQ. Đánh giá ảnh hưởng MT là xác định ảnh hưởng đến MT của các hoạt động sử dụng CQ đồng thời xem xét đến mức độ bền vững MT. Đánh giá ảnh hưởng xã hội của việc sử dụng CQ bằng các phương pháp điều tra xã hội học nhằm phân tích truyền thống, tập quán sử dụng các CQ và khả năng tiếp thu trình độ khoa học - kỹ thuật để lựa chọn các phương án sử dụng CQ và đầu tư thích hợp.
Từ những năm 1980, đặc biệt là từ 1990 đến nay, việc nghiên cứu tổng hợp và toàn diện từ tự nhiên đến MT, kinh tế và xã hội đã được xem xét một cách đầy đủ nhất trong nhiều công trình nghiên cứu [40, 42, 107]. Về phương 9 z pháp sử dụng trong đánh giá, ngoài các phương pháp truyền thống còn có nhiều phương pháp mới, hiện đại trên cơ sở ứng dụng hệ thông tin địa lý (GIS). Nhìn chung, theo hướng nghiên cứu CQ, đa số các công trình được thực hiện trên phần lục địa. Đối với các vùng biển, đảo, việc nghiên cứu cơ sở ĐLTN phục vụ mục đích PT còn hạn chế.
Ở các vùng biển, đảo ven bờ - về cả lý luận và thực tiễn - công tác này đã mang lại những kết quả bước đầu rất quan trọng [31, 32, 33]. Đối với các vùng biển, đảo xa bờ, thì đây là một vấn đề mới và chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu do còn thiếu một hệ thống phân loại CQ thống nhất cho các vùng biển, đảo. Một số công trình nghiên cứu có đề cập đến việc xây dựng các hệ thống phân loại trong phân vùng tự nhiên và phân loại CQ áp dụng cho vùng biển [45, 50, 136], song cũng mới chỉ là bước đầu mang tính khái quát và sơ lược. Tổng quan nghiên cứu về khu vực quần đảo Trường Sa 1.
Khái quát chung về tổ chức hành chính và chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa Theo các văn bản chính thức của nhà nước Việt Nam, huyện đảo Trường Sa được thành lập ngày 9/12/1982 theo quyết định số 193/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng. Theo quyết định này, toàn bộ QĐTS, trước đấy thuộc huyện Long Đất, tỉnh Đồng Nai, trở thành đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Đồng Nai. Ngày 18/12/1982, Nghị quyết của Quốc Hội khóa 7, phiên họp thứ tư sát nhập huyện Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh.