Chương 1:Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Đặc điểm cảnh quan lưu vực sông Lại Giang Chương 3: Đánh giá cảnh quan và phân tích lưu vực phục vụ định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp lưu vực sông Lại Giang 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Tổng quan các nghiên cứu cảnh quan cho sử dụng hợp lý lãnh thổ Là một đối tượng nghiên cứu cơ bản của các đơn vị lãnh thổ tự nhiên, CQ học ngày càng trở thành một hướng nghiên cứu quan trọng, một phương pháp tiếp cận hiệu quả của Địa lý ứng dụng[152]. Ra đời từ rất sớm (cuối thế kỷ XIX), đến nay Khoa học Cảnh quan (KHCQ) đã có những bước phát triển mạnh mẽ, ngày càng hoàn thiện hơn về cả lý luận, phương pháp và hướng tiếp cận nghiên cứu.
Theo đó,CQ không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lý thuyết cơ bản, nghiên cứu cấu trúc không gian lãnh thổ mà còn nghiên cứu cả cấu trúc chức năng, động lực, đánh giá cho các mục đích phát triển kinh tế, sử dụng tài nguyên và BVMT, phục vụ định hướng SDHL lãnh thổ. Đặc biệt với xu thế hiện nay, cùng với các vấn đề cấp bách về môi trường, các NCCQ không chỉ dừng lại ở các hợp phần, lãnh thổ riêng lẻ mà đòi hỏi phải NCCQ một cách toàn diện, trên cơ sở tiếp cận liên ngành, liên vùng và liên quốc gia. Trong đó, NCCQlưu vực sông là mộthướng tiếp cận có hiệu quả cao. Có thể nói, NCCQ phục vụ định hướng SDHL lãnh thổ đã trải qua một thời gian dài, nội dung nghiên cứu đa dạng, gắn với nhiều công trình của các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới cũng như trong nước.
Nghiên cứu cảnh quan trên thế giới a. Khái quát về phát triển nghiên cứu cảnh quan cho sử dụng hợp lý lãnh thổ Nhiều nghiên cứucho rằng, KHCQ bắt đầu được định hình từ những mô tả đầu tiên về thiên nhiên của Hans Sachs (1537), Frankfurt (1556) [152] và trở thành học thuyết CQ vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trên cơ sở nhận định của V.Docusaev về tính toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất nội tại của mối quan hệ nhân quả giữa các hợp phần tự nhiên. Trong đó, công trình kinh điển của ông là Học thuyết về các đới thiên nhiên (còn gọi là đới lịch sử - tự nhiên). - Vào những năm 1920 - 1930, NCCQ được đặc trưng chủ yếu bởi các quá trình khảo sát, điều tra, khai thác lãnh thổ, tập trung ở các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ) [65], với 2 hướng nghiên cứu chủ yếu, gồm: Hướng mô tả, lập bản đồ các yếu tố thành 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo và bản đồ CQ, tiêu biểu B.
- Từ những năm 1930 - 1960, NCCQ bắt đầu phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sau Thế chiến thứ II (1945). Các vấn đề lý thuyết của CQ được quan tâm, bàn luận sôi nổi ở Nga và một số nước Đông Âu. Nhiều công trình đi vào nghiên cứu phân hoá cấu trúc và hình thái học của CQ (F. Điểm nhấn quan trọng của NCCQ thời kỳ này là sự phát triển các hệ thống phân vùng CQ (theo cá thể) và hệ thống phân loại CQ (theo kiểu loại) được áp dụng trên các quy mô lãnh thổ khác nhau.
Đồngthời, các công trình bắt đầu chuyển từ nghiên cứu định tính sang định lượng. Thời kì này còn được đánh dấu bởi quan niệm của C.Troll (1939) về sinh thái cảnh quan (STCQ) với hai trường phái nghiên cứu: Trường phái Bắc Mỹ tập trung vào hướng sinh thái của CQ, trường phái Châu Âu tập trung vào tính ứng dụng của CQ trong phân vùng lãnh thổ, quy hoạch, bảo tồn, đánh giá đất đai. Trong đó, nhân tố con người được xem là yếu tố thống nhất trong CQ [125, 133, 151]. - Vào những thập niên cuối TK XX, một bước ngoặt quan trọng của NCCQ là chuyển từ nghiên cứu cấu trúc sang nghiên cứu chức năng, động lực CQ với công trình điển hình của V.
Hướng nghiên cứu này thể hiện sự xâm nhập rộng rãi của quan điểm hệ thống vào khoa học, làm giàu thêm các khái niệm về CQ như tính hoàn chỉnh, tính thang bậc, tính tổ chức, tính hệ thống, tính vận động và biến đổi của CQ. Trong giai đoạn này, KHCQ đã đạt được nhiều thành công vượt bậc cả về lý luận và thực tiễn ứng dụng. Với một số lượng khổng lồ các công trình nghiên cứu, nội dung, phương pháp và hướng tiếp cận đa dạng ở cả Châu Âu, Bắc Mỹ [121, 122, 153], KHCQ đã mang lại hiệu quả to lớn cho việc khai thác, sử dụng TNTN lãnh thổ gắn với BVMT. Sự phát triển về phương pháp nghiên cứu gắn với khả năng tiếp cận dữ liệu và thông tin không gian nhờ công nghệ viễn thám, hệ thông tin địa lí (GIS), đã chuyển các NCCQ thiên về định tính (mô tả) sang định lượng và mô hình hóa.
Nội dung NCCQ được mở rộng, ngoài những nghiên cứu CQ tự nhiên, còn NCCQ văn hóa, CQ nhân sinh,., và mở rộng các ứng dụng CQ cho nhiều lĩnh vực quy hoạch hóa lãnh thổ, quốc tế hóa NCCQ. Điều này khẳng định, NCCQ luôn là một lựa chọn hiệu quả cho các nghiên cứu định hướng khai thác TNTN, tổ chức không gian SDHL lãnh thổ. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Những năm đầu thế kỷ XXI: Các NCCQ trong thời gian này đã chứng tỏ sức mạnh to lớn của mình trong việc hoạch định không gian sử dụng lãnh thổ, phù hợp với đặc trưng và tiềm năng vốn có của nó, giải quyết hàng loạt vấn đề cấp bách trên toàn cầu về môi trường, cũng như KT - XH. Đặc biệt, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, với nhiều công cụ hiện đại (GPS, viễn thám,.), vai trò của NCCQ càng được tăng cường.
Các NCCQ mở rộng ra nhiều hướng nghiên cứu, ứng dụng, thực hiện với nhiều quy mô lãnh thổ lớn, các nghiên cứu định lượng, tính toán, đo đạc thể hiện tính chính xác, khách quan, mang lại hiệu quả cao trong kết quả nghiên cứu. Một vấn đề đáng chú ý ở đây là các NCCQ bắt đầuphát triển mạnh ở các quốc gia Châu Á, đặc biệt là Đông Á [131, 135, 137, 154, 161, 163]. Có thể nhận thấy, ngay từ khi mới hình thành, NCCQ đã luôn thể hiện mục tiêu cao nhất của mình trong tối ưu hóa việc sử dụng lãnh thổ. Việc tiếp cận theo nhiều hướng nghiên cứu, nhiều phương pháp, trên các quy mô lãnh thổ khác nhau của NCCQ đều không nằm ngoài mục đích trên.
Một số hướng nghiên cứu cảnh quan liên quan đến luận án - Hướng phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ Cácđơn vị CQ trên Trái đất rất khác nhau về quy mô, cấu trúc hình thái và biểu hiện. Do đó, phân tích cấu trúc, chức năng của CQ luôn là một nhiệm vụ quan trọng trong NCCQ. Từ đầu thế kỷ XX, các nhà CQ Đức đã quan tâm đến“gestalt - cấu hình” để chỉ ra những đặc trưng không gian địa lý của CQ [152], xác định mục tiêu NCCQ cho các định hướng sử dụng lãnh thổ. Rất nhiều các NCCQ gần đây cũng đều khẳng định điều đó.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Tomasz và cộng sự (2003) cho rằng, nghiên cứu cấu trúc, chức năng của CQ sẽ xác định được tính năng độc đáo về điều kiện tự nhiên (ĐKTN) và tiềm năng của CQ; là một việc làm rất hữu ích và cần thiết trong phân loại lãnh thổ, phục vụ cho xây dựng chính sách phát triển KT – XH của khu vực, với các chiến lược về môi trường [149]. Ning (2002) đã đề xuất xử lý tối ưu hóa không gian cho các loại rừng với các khu vực chức năng CQ khác nhau khi nghiên cứu cấu trúc CQ lưu vực hồ trên núi Erlong, tỉnh Hắc Long Giang. Ông cho rằng, đây là cơ sở khoa học cho việc phục hồi sinh thái của toàn bộ thung lũng và PTBV cảnh quan vùng hồ [163]. Fujihara và nnk (2005) trên cơ sở nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc cảnh quan LVS Nagara (Nhật) cho thấy, những thay đổi cấu trúc CQ có liên quan đến các mô hình sử dụng đất [135].
Dong và cộng sự (2009) quan tâm đến sự thay đổi cấu trúc CQ trong LVS Weigou (Trung Quốc) và khẳng định, cấu trúc CQ chịu ảnh hưởng sự tương tác phức tạp của các yếu tố tự nhiên và các hoạt động của con người, quyết định đến chức năng sinh thái của nó trong lưu vực [131]. Như vậy, việc phân tích cấu trúc, chức năng của CQ cho phép xác định được những tính năng đặc trưng, tiềm năng vốn có của tự nhiên và các nguyên nhân, chiều hướng biến đổi của nó, sẽ là cơ sở quan trọng để đưa ra định hướng sử dụng lãnh thổ một cách hiệu quả. - Nghiên cứu sự biến đổi cảnh quan theo thời gian phục vụ sử dụng hợp lý lãnh thổ CQ là một thể tổng hợp địa lý luôn nằm trong sự vận động và chịu sự thay đổi theo thời gian. Mặc dù CQ thiên nhiên thường chỉ thay đổi theo niên đại địa chất, nhưng CQ nhân sinh trải qua một sự thay đổi rất nhanh từ thế hệ này sang thế hệ khác, ngay cả trước mắt của một người quan sát.
―cảnh quan‖ trong các thuật ngữ khoa học là một khái niệm về địa lý khu vực và có tính so sánh [152]. Việc NCCQ, so sánhsự biến đổi của nó theo thời gian là một cơ sở rất quan trọng cho các đề xuất định hướng sử dụng lãnh thổ.Troll (1939), một nhiệm vụ khác rất quan trọng của NCCQ là phân tích về căn nguyên của CQ hiện nay. Nhiệm vụ này đòi hỏi phải chú trọng xây dựng lại các trạng thái CQ trước đó để hiểu các quá trình chuyển đổi,dẫn đến diện mạo và thành phần của CQ hiện tại (vi khí hậu, đất, quần thể sinh vật, nước,…) theo thời gian. Việc làm này mang lại một kiến thức khá chính xác về sự biến đổi trạng thái CQ hiện tại so với CQ nguyên thủy, thể hiện vận động của CQ và sự can thiệp của con người (sự biến 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đổi của CQ nông nghiệp gây ra bởi phát triển kinh tế, sự thay đổi không gian của tài nguyên và nhu cầu thị trường).
Phân tích được căn nguyên này, sẽ là một nền tảng cho việc phát huy tiềm năng của của khu vực [152].