MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Về mặt khoa học Địa danh phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội, là chứng tích về dân tộc, lịch sử, địa lý, văn hóa, kinh tế, chính trị của cộng đồng. Nó để lại một dấu ấn có giá trị theo thời gian.
Đặc biệt ở lĩnh vực ngôn ngữ, địa danh là nguồn tài nguyên vô tận giúp ta khám phá những tâm tư, tình cảm, tư duy của người xưa gửi gắm trong lời ăn tiếng nói hằng ngày và cả ngôn ngữ văn chương trau chuốt của chữ Hán, chữ Nôm. Chúng ta biết rằng địa danh được cấu tạo từ chất liệu ngôn ngữ, chịu sự chi phối và tác động của ngôn ngữ. Nghiên cứu địa danh là góp phần làm phong phú cho nội dung ngôn ngữ, phát triển cho ngành địa danh học Việt Nam hiện nay vốn hãy còn non trẻ. Địa danh được cấu tạo và chịu sự chi phối của qui luật ngữ âm, ngược lại nó là nguồn tài liệu quí giá cho ngành ngữ âm học.
Đối với ngành ngữ pháp học, địa danh cũng góp phần làm sáng rõ về mặt phương thức cấu tạo từ, ngữ. Và hiển nhiên làm phong phú kho tàng từ vựng tiếng Việt không không thể không kể đến vai trò của việc nghiên cứu địa danh. Hơn nữa khi nghiên cứu địa danh là góp phần củng cố tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc đồng thời ngôn ngữ địa phương cũng phát huy được sự phong phú vào ngôn ngữ thống nhất. Địa danh phản ánh đời sống của một vùng đất, ngôn ngữ của một vùng, nghiên cứu địa danh là nghiên cứu ngôn ngữ địa phương của vùng đất đó.
Như vậy địa danh còn là nguồn tài liệu cần thiết cho ngành phương ngữ học. Trong cuộc sống, con người cần phải giao tiếp với nhau, mọi vật cần có tên để gọi và địa danh là một minh chứng, ẩn chứa nhiều điều của cuộc sống qua tên gọi đó. Về mặt thực tiễn Có đôi lúc chúng ta tự hỏi rằng tại sao có tên Sài Gòn, Cần Thơ, Cà Mau hay Bến Tre…, nó có nguồn gốc và ý nghĩa như thế nào, hoàn cảnh phát sinh và phát 2 triển ra sao? Để giải đáp về điều này chỉ có vai trò của địa danh học mới có thể làm sáng rõ. Việt Nam do ảnh hưởng của chiến tranh, là một vùng đất tiếp xúc, pha trộn nhiều nền văn hóa cho nên ít nhiều gì cũng dễ dẫn đến sự “đồng hóa”, nhưng chính nhờ có những tên gọi nảy sinh từ một vùng đất được lưu giữ và lưu truyền đã góp phần gìn giữ và phát huy được bản sắc dân tộc, giúp con người gần gũi với quê hương mình và thêm yêu quê hương hơn, ra sức phát triển, làm giàu thêm quê hương.
Bên cạnh đó việc đồng hóa một ngôn ngữ đối với một dân tộc hơn ngàn năm Bắc thuộc, trăm năm giặc Tây là điều dễ xảy ra nhưng với một Việt Nam anh hùng thì việc gìn giữ tiếng nói của dân tộc, phát triển ngôn ngữ ngày càng phong phú là một vai trò cần thiết của địa danh. Địa danh Nôm được lưu giữ, truyền bá cho đến ngày nay, ngôn ngữ thuần Việt gắn với những tên gọi đa dạng của địa danh, thấy được cách ứng xử linh hoạt của dân tộc trong suốt bề dày lịch sử. Là một nhà mô phạm, nghiên cứu địa danh giúp cho chúng tôi giáo dục học sinh về sự tìm tòi, khám phá về một vùng đất tươi đẹp, trù phú nơi các em sinh sống, thấy được những ước mơ về cuộc sống yên bình, sung túc, giàu có của người xưa hay những chiến tích oai hùng còn lưu danh, văn hóa của một thời kì, sự thay đổi của một vùng đất… Bến Tre là một tỉnh nhỏ của đồng bằng sông Cửu Long nhưng được biết đến với những chiến tích oai hùng, kiêu dũng, người dân nơi đây có một bề dày đấu tranh kiên cường, bất khuất với nhiều danh nhân lịch sử: Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Trương Vĩnh Ký, Sương Nguyệt Anh, Nguyễn Thị Định…cùng với các phong trào nổi dậy của quần chúng như Khởi nghĩa Nam Kì, phong trào Đồng Khởi. Nhắc đến Bến Tre là nghĩ đến phong trào Đồng Khởi, có thể xem, đây là phong trào đòn bẩy, làm cơ sở cho sự nỗi dậy của các phong trào khác trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ ở Nam Kì.
Được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, trải qua bao đời Bến Tre vẫn còn lưu giữ nguyên các giá trị của nó. Mặc dù lịch sử hình thành vùng đất chỉ 3 khoảng hơn 300 trăm, song địa danh ở đây được kết tinh bởi nhiều vùng văn hóa của các dân tộc khác nhau trong buổi đầu khai phá như Chăm, Khơme, Hoa…, “địa danh ở đây không phải là đơn giản”[ Nguyễn Văn Âu, 2000, tr 142]. Có thể nói Bến Tre là một vùng đất đầy tiềm năng và hấp dẫn, là mãnh đất màu mỡ cho các ngành khoa học nghiên cứu trong đó có địa danh. Vận dụng những lí thuyết về ngôn ngữ học, kết hợp với kiến thức về lịch sử, địa lý, văn hóa, dân tộc cũng như công tác thực tế chúng tôi muốn khắc họa toàn cảnh về bức tranh địa danh ở Bến Tre không nằm ngoài những mục đích nêu trên và lòng tự hào về vùng đất Đồng Khởi anh hùng.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danh ở Bến Tre, là toàn bộ các địa danh chỉ đối tượng tự nhiên như địa hình, sông, rạch…tên gọi các đối tượng nhân tạo như địa danh chỉ các công trình xây dựng thuộc về không gian hai chiều như tên đường sá, cầu cống, kênh… tên gọi các địa danh hành chính như tên ấp, xã…và các địa danh chỉ vùng. Trên cơ sở kế thừa những người nghiên cứu trước, người làm luận văn cũng muốn góp phần hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu của đối tượng địa danh ở Bến Tre nói riêng và đối tượng của địa danh học ở Việt Nam nói chung. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích Bước đầu nghiên cứu địa danh ở góc độ ngôn ngữ, qua thu thập tài liệu, chúng tôi điều tra thực tế mục đích là để làm sáng rõ về phương thức cấu tạo địa danh, nguồn gốc, ý nghĩa và quá trình biến đổi địa danh ở Bến Tre góp phần làm phong phú ngành địa danh học Việt Nam.
Công trình hệ thống lại những khái niệm về địa danh, quá trình phân bố địa danh, phân loại địa danh, đối tượng nghiên cứu trên cơ sở kế thừa, bổ sung và phát triển. Chúng tôi góp phần gìn giữ về lịch sử tiếng Việt, bảo tồn phương ngữ của một vùng đất.Qua đó, chúng ta còn thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa địa danh với các 4 phân ngành như từ vựng học, ngữ âm học và ngữ pháp học cũng như mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học khác như: địa lý học, lịch sử học, văn hóa học, dân tộc học… Chúng tôi bổ sung, hệ thống lại, làm sáng rõ nguồn gốc, ý nghĩa những địa danh ở Bến Tre vốn còn bị thờ ơ, mờ nhạt. Nhiệm vụ Nhiệm vụ của việc nghiên cứu địa danh không nằm ngoài những mục đích nêu trên trên cơ sở mang tính chất lí luận và tính thực tiễn của việc nghiên cứu. Lịch sử nghiên cứu 4.
Nghiên cứu địa danh ở Việt Nam Địa danh Việt Nam thật sự hình thành và phát triển chỉ vài chục năm trở lại đây. Nói như vậy, không có nghĩa là dân tộc ta không quan tâm đến nguồn gốc, sự hình thành và phát triển cũng như quá trình biến đổi của địa danh. Ở giai đoạn trước đó nó chỉ được đề cập trong các tản văn, sách biên khảo địa phương chí, chủ yếu nhìn nhận địa danh ở góc độ lịch sử, địa lý. Trong An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc (1333), một Việt gian ở đời Trần có ghi chép về danh sách những khu vực hành chánh, những núi sông lớn và những cổ tích danh tiếng của thời đại nhà Trần trở lên.
Lê Qúi Đôn với Phủ biên tạp lục gồm 6 quyển (1776), cũng có bàn đến một số địa danh thuộc lĩnh vực kinh tế, chính trị, địa lí, lịch sử, văn hóa ở miền Nam nước ta Thời nhà Nguyễn, đời Gia Long có bộ sách Nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định gồm 10 quyển đã ghi chép hệ thống giao thông đường bộ ở nước ta từ kinh đô Phú Xuân đến Gia Định, và từ kinh đô đến Lạng Sơn, còn đường thủy được ghi chép từ Gia Định đến Vĩnh Trấn (Vĩnh Long). Tác giả giới thiệu một cách tổng quan về đường đi nước bước theo chiều dài đất nước. Sau Lê Quang Định, có tác giả Trịnh Hoài Đức với Gia Định thành thông chí (có thể hoàn thành trong đời Gia Long, 1802-1820), sách gồm sáu quyển: Tinh dã chí, Sơn xuyên chí, Cương vực chí, Phong tục, Sản vật, Thành trì. Sách này đã phản ánh đầy đủ về đất Gia Định thuộc vùng đất Nam Bộ, là bộ sách quý thể hiện ở 5 nhiều phương diện như diên cách địa lý, thành trì, khí hậu và các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, đặc biệt là giới thiệu nguồn gốc và lí giải một số địa danh.
Ở đời Minh Mệnh (1820-1840), Phan Huy Chú cho ra đời Lịch triều hiến chương loại chí bộ sách gồm 49 quyển, trong đó 5 quyển bàn về sự khác nhau về phong thổ, cương vực qua các đời của các trấn từ Bắc vào Nam và được đánh giá là “ một bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống ở Việt Nam” [Nguyễn Tấn Anh, tr. Đặng Xuân Bảng sống ở đời Tự Đức (1847-1883) biên soạn cuốn Sử học bị khảo trong đó có phần bàn về Tiên triều địa danh diên cách có giải thích về sự thay đổi một số địa danh, phân loại địa danh. Đại Nam nhất thống chí (1882) gồm nhiều quyển, mỗi quyển chép về một tỉnh gồm các nội dung: phương vị, phân dã, kiên trì diên cách, phủ huyện, hình thể, khí hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, dịch trạm, thị lập, từ miên,tự quán, nhân vật, thổ sản. Đây được xem là bộ địa chí phản ánh đầy đủ nhất các mặt của đời sống dân tộc Việt Nam, trong đó bộ sách có giải thích về nguồn gốc, ý nghĩa và cách thức biến chuyển của địa danh.
Đời Đồng Khánh (1885-1889), có bộ Đồng Khánh địa dư chí lược (1886) đã ghi chép đầy đủ danh sách các phủ, huyện, tổng, xã. Cùng thời điểm này còn có cuốn Đại nam quốc cương giới vựng biên cả Hoàng Hữu Xứng gồm bảy quyển,ở sau sách có bản đồ chỉ toàn bộ địa vực nước Việt Nam.