Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về tình hình sốt rét trên thế giới và Việt Nam Sốt rét hiện vẫn còn là vấn đề y tế công cộng và bệnh truyền nhiễm quan trọng trên toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực cận sa mạc Sahara, châu Phi, Nam Mỹ và Tây Thái Bình Dương. Theo Báo cáo sốt rét thế giới năm 2017 (WHO, 2018) cho thấy trong năm 2017, ước tính có khoảng 219 triệu ca sốt rét xảy ra trên toàn thế giới, so với 239 triệu ca trong năm 2010 và 217 triệu trường hợp vào năm 2016. Mặc dù, so với năm 2010, năm 2017 có ít hơn khoảng 20 triệu trường hợp nhưng dữ liệu trong giai đoạn (2015-2017) biểu hiện rằng không có sự tiến bộ đáng kể nào trong việc giảm số ca sốt rét toàn cầu được thực hiện trong khoảng thời gian này.
Điều này, một lần nữa, các nước trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông, kể cả Việt Nam cho thấy dù số mắc sốt rét giảm đáng kể trong những năm gần đây, song chúng ta lại đang đối mặt với rất nhiều thách thức về mặt kỹ thuật như muỗi Anopheles spp. kháng hóa chất diệt, ký sinh trùng Plasmodium spp. kháng thuốc có hiệu lực đang dùng, sốt rét trên nhóm dân đi rừng, ngủ rẫy và giao lưu qua biên giới các quốc gia Việt Nam - Lào - Campuchia rất phức tạp. Cơ cấu KSTSR tại Việt Nam bao gồm chủ yếu là P.
vivax, các loài khác như P. knowlesi chiếm thấp (<5%), việc điều trị với phác đồ thuốc phối hợp có thành phần artemisinine (ACTs) cho sốt rét do P. falciparum có thể giúp kiểm soát tốt, tuy nhiên điều trị P. vivax lại rất khó khăn do BNSR không tuân thủ dùng đủ liệu trình PQ 14 ngày liên tiếp sau khi đã cải thiện triệu chứng lâm sàng và có nguy cơ tán huyết trên bệnh nhân thiếu hoạt độ enzyme G6PD nếu dùng PQ dài ngày theo liều khuyến cáo Bộ Y tế [1].
Mục tiêu toàn cầu là tiến đến LTSR tại Việt Nam đến năm 2030 có thể bị trì hoãn vì các thách thức trên. Một số khó khăn khác cũng đang đối mặt đó là sốt rét là một căn bệnh truyền nhiễm với miễn dịch không bền vững và tình trạng người mang KSTSR không triệu chứng chiếm tỷ lệ thấp nhưng là ổ chứa tiềm ẩn và nguồn lây quan trọng cho 5 cộng đồng đang sinh sống và làm việc tại các vùng SRLH, loại nhiễm trùng này không thể phát hiện bằng các phương pháp xét nghiệm giêm sa hay test nhanh mà chỉ có phương pháp phân tử siêu nhạy mới có thể phát hiện. Nếu không đánh giá đúng mức cũng như không điều trị tiệt căn nhóm BNSR này, thì khâu lan truyền bệnh vẫn tiếp diễn, dai dẳng và không thể đạt được mục tiêu LTSR. Tình hình bệnh nhân sốt rét và ký sinh trùng sốt rét tại Việt Nam Tình hình sốt rét của Việt Nam hiện nay phần lớn số ca mắc sốt rét chỉ còn tập trung vào khu vực miền Trung -Tây Nguyên và Nam Bộ - Lâm Đồng, các tỉnh phía Bắc có số mắc thấp hơn, chủ yếu là các ca ngoại lai từ nhóm dân di biến động tại các tỉnh có Tây Nguyên và Bình Phước, một số khác do lao động nước ngoài trở về như Lào, Campuchia, Angola, Nam Sudan.
Kết quả thực hiện PCSR và LTSR trên toàn quốc năm 2018 so sánh chỉ số với năm 2017 cho thấy số BNSR giảm 18,3% (6.411), số KSTSR tăng 5,8% (4.548), tỷ lệ KSTSR/1.000 dân tăng 5,7%, số SRAT giảm 67,6% (12/37), số TVSR giảm 5 ca (1/6) và không có dịch xảy ra. SR tiếp tục tập trung cao những vùng SRLH nặng, kháng thuố c và đối tượng nguy cơ cao. Số BNSR phân theo từng khu vực trong năm 2018 so với năm 2017 cho thấy ngoại trừ khu vực Tây Nguyên, các khu vực khác đều có số BNSR giảm so với 2017. Đặc biệt, khu vực phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long số BNSR giảm trên 40%.
Bệnh nhân sốt rét năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017 theo khu vực % tăng (+), TT Khu vư ̣c Năm 2018 Năm 2017 giảm (-) 1 Miền núi phía Bắc 752 1.655 -54,56 2 Đồng bằng trung du Bắc bộ 592 1.040 -43,08 3 Khu IV cũ 579 971 -40,37 4 Ven biển miền Trung 962 1.060 23,20 6 Đông Nam Bộ 1.529 -8,04 7 Đồng bằng sông Cửu Long 41 77 -46,75 Toàn quốc 6.411 -18,32 Tây Nguyên có số BNSR gia tăng (23,2%) và đây là năm thứ 2 liên tiếp 6 BNSR tăng ở khu vực này.440) so với cùng kỳ 2016; năm 2018 tăng 23,20% (2.060) so với cùng kỳ 2017. Phân bố BNSR theo tháng toàn quốc năm 2018 so với năm 2017, trung bình các tháng trong 5 năm 2013-2017 cho thấy số BNSR trong các tháng năm 2018 cao ở các tháng cuối năm (9-12) và tháng đầu năm (tháng 1-5). BNSR giảm và duy trì mức 400-500 ca các tháng giữa năm (tháng 4-8). So với các tháng năm 2017, BNSR các tháng năm 2018 thấp hơn, các tháng năm 2017 thấp nhất 558 ca vào tháng 1, các tháng còn lại cao trên 600 ca và cao nhất vào tháng 12 năm 2017 với 1.
So với giai đoạn (2013-2017), số BNSR các tháng năm 2018 thấp hơn đáng kể, trung bình tháng giai đoạn (2013-2017) thấp ở các tháng 2-8, thấp nhất vào tháng 4 (1.287 ca) và cao nhất tháng 10-12 và tháng 1 (trên 1. Về diễn biế n số BNSR và KSTSR giai đoạn (2009-2017) cho thấy giảm dần đều qua giai đoạn (2009-2018) với số BNSR cao nhất là 60.867 ca, BNSR bắt đầu giảm từ năm 2010 (54.406 ca năm 2013 và giảm dần.870, giảm 88,71% so với năm 2009. Số KSTSR từ năm 2009 duy trì mức cao đến năm 2014 (16.752 ca) và giảm từ 2015-2016. Số KSTSR tăng liên tiếp trong 3 năm gần đây với năm 2016 (4.
Số KSTSR năm 2018 giảm ở hầu hết các khu vực, riêng Tây Nguyên tăng 27,18% so với năm 2017. Năm 2018, BNSR tăng ở 14 tỉnh, phân bố ở các khu vực như sau: Khu vực miền Bắc: Bắc Kạn tăng 1 ca (5/4), Hòa Bình tăng 2 ca (4/2), Hà Nội tăng 3 ca (16/13), Nghệ An tăng 8,33% (26/24). Khu vực miền Trung: Đà Nẵng tăng 3 ca (5/2), Thừa Thiên Huế tăng 8 ca (15/7), Phú Yên tăng 376,47% (324/68), Bình Định tăng 18,42% (45/38), Bình Thuận tăng 2 ca (102/100). Khu vực Tây Nguyên có Gia Lai tăng 30,76% (1.101/842), Kon Tum tăng 26,42% (134/106), Đăk Lăk tăng 46,29% (768/525).
Số lượng KSTSR 10 tỉnh cao nhấ t chiếm 89,03% so với toàn quốc (4.811) gồm Bình Phước 1.243 ca, Gia Lai 1.101 ca, Đắk Lắk 768 ca, Phú Yên 324 ca, Đăk Nông 218 ca, Lâm Đồng 175 ca, Kon Tum 134 ca, Khánh Hòa 125 ca, Bình Thuận 102 ca, Quảng Bình 95 ca. 7 SRAT năm 2018 giảm 25 ca so với cùng kỳ năm 2017 (12/37). Các tỉnh có số SRAT cao nhất là Bình Phước, Gia Lai, Khánh Hòa. Số BNSR tử vong hàng năm giai đoạn 2009-2011 ở ngưỡng cao (14-27 ca), cao nhất là 2009 với 27 ca.
Trong 5 năm gần đây, TVSR giảm dưới 6 ca do chẩn đoán, điều trị tăng cường & biện pháp can thiệp phòng chống vector được chú trọng ở các quần thể nguy cơ. Hai tỉnh có KSTSR cao nhất là Bình Phước và Gia Lai và 6 tỉnh tăng KSTSR so với cùng kỳ 2017 như Gia Lai (tăng 30,76%), Đăk Lăk (46,29%), Phú Yên (76,47%), Lâm Đồng (17,45%), Kon Tum (26,42%), Bình Thuận (2%). Số KSTSR năm 2018 cao nhất ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đây cũng là nơi có 3 tỉnh có KSTSR cao nhất so cả nước (Bình Phước, Gia Lai và Đắk Lắk).
Số KSTSR khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ chiếm 77,93% so với cả nước. Điểm đặc biệt cần lưu ý là số BNSR từ năm 2017-2018 cao nhất ở các tỉnh Tây Nguyên có liên quan trên nhóm dân nguy cơ cao như đi rừng, ngủ rẫy và có liên quan công việc dài ngày trong rừng để lấy mật ong, phong lan, lấy gỗ, thu hoạch theo vào mùa vụ của từng vùng ở vùng giáp ranh giữa 3 tỉnh Phú Yên, Đăk Lăk và Gia Lai (vùng giao thoa giữa rừng quốc gia Yok Đôn). Các tỉnh/ thành có số KSTSR cao nhất năm 2018 và so với 2017 Tỷ lệ % KSTSR Tỷ lệ KSTSR/ KSTSR KSTSR TT Tỉnh năm KSTSR/ 1.000 dân số SRLH giảm (-) 1 Bình Phước 1.101 0,76 1,13 842 +30,76 3 Đắk Lắk 768 0,40 0,52 525 +46,29 4 Phú Yên 324 0,34 1,03 68 +376,47 5 Đắk Nông 218 0,36 0,40 262 -16,79 6 Lâm Đồng 175 0,14 0,26 149 +17,45 7 Kon Tum 134 0,23 0,31 106 +26,42 8 Khánh Hoà 125 0,10 0,65 144 -13,19 9 Bình Thuận 102 0,08 0,15 100 +2,00 10 Quảng Bình 95 0,10 0,23 122 -22,13 8 Năm 2018, cả nước có 4.813 bệnh nhân có KSTSR, trong đó P. vivax chiếm 36%, nhiễm phối hợp chiếm 2%.
Cơ cấu KSTSR trong năm 2018 có sự khác nhau giữa các khu vực: Khu vực miền Bắc có 104 KSTSR, trong đó có 61 KST P. falciparum chiếm 58,65%; 38 KST P. vivax chiếm 36,54%; 2 ca P. malariae chiếm 1,92%, 2 ca P.
ovale chiếm 1,92%, 1 ca nhiễm phối hợp chiếm 0,96%. Khu vực miền Trung-Tây Nguyên có 3. vivax chiếm 35,63%; 7 ca P. malariae chiếm 0,21%, 24 KST phối hợp chiếm 0,72%.
Khu vực miền Nam có 1.394 ca KSTSR, trong đó có 802 ca P. falciparum chiếm 57,53%; 532 ca P. vivax chiếm 38,16%, 2 ca P. malariae chiếm 0,14%, 58 ca nhiễm phối hợp chiếm 4,16%.
falciparum cao (58-63%) ở tất cả khu vực, do một số yếu tố như việc quản lý bệnh nhân di biến động gặp khó khăn và sốt rét kháng thuốc việc điều trị gặp khó khăn vì hiện chưa có thuốc thay thế. Diễn biến KSTSR năm 2018: KSTSR tăng vào tháng 2 (465 ca) sau đó giảm dần đến tháng 6 (195 ca) giống chu kỳ năm 2017. KSTSR những tháng cuối năm tăng đến tháng 11 (645 ca), tuy nhiên giảm mạnh vào tháng 12, đây là diễn biến khác biệt so với những năm trước đây. KSTSR năm 2018 ở mức cao hơn so với 2017.
Số KSTSR trung bình các tháng năm 2018 thấp hơn các tháng giai đoạn 2013-2017. Diễn biến khác biệt: tăng cao ở tháng 2 và giảm thấp ở tháng 12 so với giai đoạn 5 năm trước 2013- 2017. KSTSR chủ yếu là tại nội địa với 3.132 ca chiếm 65% trong tổng số KSTSR toàn quốc. Khu vực miền Trung có tỷ lệ lây truyền tại chỗ thấp chỉ 36%.
Khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có tỷ lệ cao 70-80% ca KSTSR lây truyền tại chỗ. Toàn quốc ghi nhận 4.813 ca có KSTSR, trong đó có 392 ca ngoại lai từ châu Phi, Lào và Campuchia, chiếm 8,15% trong tổng số KSTSR toàn quốc.