CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ PHÁP CỦA DANH TỪ ĐƠN VỊ TRONG TIẾNG VIỆT 1. Vấn đề loại từ trong tiếng Việt 1. Khái niệm và việc xác lập loại từ 1. Khái niệm loại từ Vấn đề về tên gọi cũng như bản chất và chức năng của loại từ từ trước đến nay vẫn chỉ mang tính chất tương đối, chưa có sự thống nhất về quan điểm lý thuyết từ các nhà Việt ngữ học.
Trong khi hầu hết các từ loại khác đã có được cơ sở nền tảng về mặt lý thuyết cũng như về vấn đề thuật ngữ, thì, loại từ là một từ loại cho đến nay vẫn còn được nhận biết với nhiều tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, loại từ (classificateur/classifier), danh từ chủng loại (nom générique), số từ (numéral), đại danh từ (pronomial), từ đặc thị (spécificatif), quán chủng loại (article générique), phó danh từ,. Sở dĩ một từ loại lại có nhiều tên gọi như vậy là vì mỗi tác giả khi nghiên cứu đã đứng trên một góc độ khác nhau để nhìn về bản chất và chức năng của đối tượng nghiên cứu. Năm 1948, Lê Văn Lý xem loại từ “như những từ chứng cho từ loại A, tức cho là danh từ”.
Như vậy tác giả này ngầm công nhận loại từ là một từ loại có số lượng rất giới hạn, có thể dùng như những yếu tố điểm chỉ trên mặt hình thái - cú pháp trong việc định nghĩa và nhận ra danh từ. Theo quan niệm này thì rõ ràng là loại từ là phụ từ cho danh từ. Sự khác biệt giữa hai tiểu loại trên là một bên thì general categorical có thể sử dụng như một định từ đơn nằm sau từ chính. Ví dụ như “vật trong con vật”, còn classifier (loại từ) thì không thể làm như vậy.
10 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ta thấy dường như hai cách nhận định trên hoàn toàn trái ngược nhau nhưng thực chất chúng cũng theo nguyên tắc chung là dựa vào tiêu chí sự phân bố của từ khi xem xét. Trên thực tế, những từ như cái trong cái bàn, tấm trong tấm bảng, cục trong cục đá, nỗi trong nỗi buồn, cuộc trong cuộc sống … là một từ loại, và như thế, nó cần phải có một định nghĩa. Theo như quan điểm của A.Culioli thì từ mà người ta gọi là loại từ/classificteur/classifier trong các ngôn ngữ như tiếng Việt chẳng hạn, có thể xem như một dấu hiệu chứng tích (trace) của một thao tác định lượng hóa (quantifibialisation). Sự định lượng này nhắm vào danh từ đi theo sau loại từ.
Định lượng do loại từ đảm nhận tuy gọi là định lượng nhưng thực chất tác động trên hai mặt: mặt định lượng (Đl) và mặt định tính (Đt). Bởi vì, trong các ngôn ngữ trên thế giới, có những từ tuy gọi là định lượng vì chức năng của nó là định lượng nhưng đồng thời cũng là định tính nữa. Như vậy có thể xem loại từ là từ loại dùng để định đơn vị, nhưng đơn vị đây không phải là đơn vị toán học mà là một đơn vị mang thêm đặc tính ngữ nghĩa. Do đó, định nghĩa loại từ là định nghĩa dựa trên chức năng, chức năng định đơn vị, chứ không dựa vào hình thái mà cũng không dựa vào sự đối lập hư - thực.
Nói tóm lại, loại từ là một tác tử dùng để định đơn vị. Đó là đặc tính bất biến của loại từ, dùng để định nghĩa loại từ. Có thể nói rằng những từ biểu đạt một khái niệm phân lập (notion discrète), có thể đếm được (comptable) thì đều có thể sử dụng làm loại từ. Vì loại từ trước hết là từ định lượng, tức là một lượng từ, nên quan hệ của nó với số từ đứng trước nó rất chặt chẽ.
Đồng thời vì đặc tính định lượng, định tính của nó nên quan hệ của loại từ với danh từ theo sau cũng rất khăng khít. Một ví dụ sau đây để có thể thấy được quan hệ của loại từ với danh từ: Con công (con: thực từ chỉ đơn vị một loại động vật) Con mắt (con: hư hóa chỉ đơn vị một bộ phận) Con cò mồi (con: dùng theo phép ẩn dụ để chỉ một người) Qua ví dụ trên thì có thể thấy chỉ có một từ nhưng khi là thực từ, khi là hư từ, tùy theo danh từ theo sau. Vì một bên là quan hệ định lượng với số từ và bên kia là quan hệ ngữ nghĩa với danh từ nên loại từ phải được xem như định từ danh từ - một từ mà chức năng định lượng là chính vì nó bất biến - còn chức năng gia nghĩa cho danh từ chỉ là yếu tố phụ, phụ với ý nghĩa là một biến số có thể đi từ zêrô đến đầy. 11 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Với nhận xét vừa trình bày trên đây, từ nào biểu hiện một khái niệm phân lập, có thể đếm được đều có thể sử dụng làm loại từ.
Và như thế thì không chỉ có danh từ mới có thể trở thành loại từ mà cả động từ hoặc tính từ cũng đều thỏa mãn. Tuy nhiên, khi tìm hiểu ngược lại lịch sử sự xuất hiện khái niệm loại từ trong tiếng Việt thì ta nhận ra rằng việc sử dụng thuật ngữ “loại từ” cho những từ như cái, con, tấm, bức, … là thiếu căn cứ. Vào đầu thế kỷ XIX, một số học giả phương Tây trong quá trình tìm hiểu phát hiện ra rằng trong một số ngôn ngữ “lạ” (như tiếng Việt, tiếng Hán) “có những danh từ mà họ tưởng là hoàn toàn tương ứng với các danh từ chỉ đồ vật vốn “đếm được” trong tiếng mẹ đẻ của họ nhưng lại cần đến một thứ từ khó hiểu làm trung gian đứng sau lượng từ” [2;249]. Khi đó, họ đã không nghiêm túc kiểm xét xem nghĩa của những danh từ chỉ đồ vật trong hai thứ tiếng có thực sự tương ứng với nhau hay không và cũng không thử tìm xem trong các thứ tiếng châu Âu có danh từ chỉ đồ vật nào không thể lượng hóa nếu không có một từ khác làm trung gian giống như thứ tiếng họ đang nghiên cứu hay không.
Và cứ thế, họ đã đưa ra một khái niệm dành cho thứ từ làm trung gian ấy là loại từ. Hơn một thế kỷ sau, họ mới nhận ra rằng ngôn ngữ nào cũng có “loại từ”, vấn đề chỉ là ngôn ngữ nào sử dụng nó nhiều hơn và ngôn ngữ nào sử dụng nó ít hơn mà thôi. Việc xác lập loại từ Như trên vừa trình bày, việc đưa ra khái niệm loại từ chỉ là một sự ngộ nhận của các tác giả phương Tây hồi đầu thế kỷ XIX. Để xác lập một từ loại thì nhất thiết phải có một hoặc một tổ hợp các tiêu chí nhất định.
Song ở đây, có thể nói rằng từ loại loại từ đã không được xác lập trên một tiêu chí nào cả. Đó chỉ là một kết luận mà không qua kiểm chứng. Chính việc khám phá ra các từ gọi là loại từ này của các tác giả phương Tây cũng đã tác động nhiều đến quan điểm của các nhà Việt ngữ học về mặt thuật ngữ cũng như về bản chất nội tại của chúng. Nguyễn Tài Cẩn trong một công trình nghiên cứu năm 1976 đã chứng minh những từ được coi là loại từ hoàn toàn đồng nhất với các danh từ chỉ đơn vị đo lường về phương diện các thuộc tính cú pháp: có thể kết hợp với số từ, không thể kết hợp với một danh từ đơn vị khác, đứng ở vị trí trước danh từ và thường cần có định ngữ.
Vì 12 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC thế, ông xếp những từ này vào nhóm các danh từ chỉ đơn vị đo lường và đơn vị tập hợp. Cao Xuân Hạo cũng có nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề từ loại của loại từ. Bằng nhiều lý luận và dẫn chứng sắc bén, ông quả quyết hơn Nguyễn Tài Cẩn cũng như nhiều tác giả khác khi cho rằng loại từ là một sự “hiểu lầm vĩ đại”. Theo ông, những thứ từ được coi là loại từ thực chất chỉ là một bộ phận nằm trong lớp danh từ đơn vị.
Về vị trí của loại từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt, chúng tôi tạm liệt kê một số ý kiến của các nhà ngôn ngữ học trong tiến trình lịch sử ngôn ngữ Việt như sau: Là người đầu tiên đưa ra giản đồ về cấu tạo thực thể từ có số trong tiếng Việt, M. Emeneau (1951) đã nêu ra nhận xét rằng trong danh từ tiếng Việt có một nhóm nhỏ gọi là danh từ có tác dụng xếp loại mà các tác giả cuốn Việt Nam văn phạm (1945) gọi là loại từ. Nguyễn Tài Cẩn (1960), khi nêu dạng lí tưởng của danh ngữ, có thêm vị trí từ “cái” đứng trước loại từ của Emeneau cũng cho loại từ là một nhóm nhỏ trong danh từ chỉ đơn vị, thường làm thành tố phụ cho danh từ trung tâm. Sau này, ông đã đưa ra hướng giải quyết vấn đề này: trung tâm là một bộ phận ghép gồm một trung tâm ngữ pháp là loại từ và một trung tâm từ vựng là danh từ.
Đến năm 1970, ông lại cho rằng “chính loại từ mới là từ trung tâm, còn danh từ ở sau chỉ là thành tố phụ”. Hồ Lê cũng nói chính danh từ cá thể hóa (chó, mèo) hạn định danh từ cá thể (tức là loại từ: con) “làm cho danh từ cá thể được hạn định một cách rõ ràng, cụ thể hơn cả về ngữ nghĩa và ngữ pháp”. Nguyễn Kim Thản (1963), vì chưa có nhận định dứt khoát nên ông cho nhóm này là một phụ loại của danh từ gọi là phó danh từ, về sau, lại xếp hẳn vào danh từ, gọi là danh từ phụ thuộc. Bên cạnh đó còn có nhiều tác giả khác cũng khẳng định loại từ là danh từ.
Khoảng thời gian đầu những năm 1957 - 1960, trong các giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, họ để loại từ thành một nhóm nhỏ gọi là từ chỉ loại, cùng với nhóm từ chỉ đơn vị, làm thành nhóm từ chỉ loại và đơn vị, là lớp con của từ loại danh từ. Nhưng sau khi thấy sự phân chia này có nhiều vấn đề không thỏa đáng, họ đã tách loại từ ra 13 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC khỏi danh từ đơn vị, để loại từ thành một nhóm nhỏ trong hạn từ, là những phụ từ xoay quanh hạt nhân danh từ, thể từ, theo lí thuyết tầng bậc hạt nhân. Quan điểm của các nhà Việt ngữ học về đặc điểm của loại từ Trong ngành nghiên cứu ngôn ngữ Đông phương nói chung về trong ngành Việt ngữ học nói riêng, loại từ (classifier) thường được quan niệm là một từ “rỗng nghĩa”, một thứ hư từ hay một cái gì gần như thế. Về cơ bản có hai hướng nhận định khác nhau về đặc điểm của loại từ.