Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1. Hiện trạng phát thải CO2 trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay 1. Hiện trạng phát thải CO2 trên thế giới Carbon dioxide (CO2) được biết đến như là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu do tác động hiệu ứng nhà kính bởi sự tích tụ ngày càng tăng của nó trong khí quyển. Theo báo cáo của tổ chức chống biến đổi khí hậu thế giới, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng từ 280ppm lên 295ppm trong giai đoạn từ năm 1000 đến năm 1990, 315ppm trong năm 1958 và tăng vọt lên mức 377ppm vào năm 2004.
Theo dự đoán của tổ chức này thì với tình hình phát thải CO2 hiện nay, nồng độ CO2 trong khí quyển sẽ đạt mức 570ppm vào năm 2100 khiến cho nhiệt độ toàn cầu tăng lên ~2oC [3].1: Nồng độ CO2 trong khí quyển giai đoạn 1000-2004 và 1958-2004 [3]. Trang 1 Luận văn thạc sĩ HVCH: Nguyễn Phú Hiếu Nghĩa Mức phát thải CO2 hằng năm trên toàn thế giới ~ 35,3Gt (2014) [1]. Nguyên nhân chủ yếu của việc gia tăng phát thải cũng như tích tụ CO2 trong khí quyển chủ yếu đến từ quá trình sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong các hoạt động của con người. Lượng phát thải CO2 do quá trình sử dụng nhiên liệu hóa thạch chiếm đến 91% trong tổng số CO2 phát thải hằng năm trên toàn thế giới.
Thêm vào đó, nhiên liệu hóa thạch chiếm từ 80-85% nguồn năng lượng hiện nay trên thế giới và điều này sẽ còn diễn ra trong tương lai gần, do đó một lượng lớn CO2 sẽ tiếp tục được phát thải vào bầu khí quyển trái đất. Hiện nay, các nền kinh tế mới nổi có tốc độ phát triển mạnh mẽ như Trung Quốc, Ấn Độ đang sử dụng một lượng năng lượng hóa thạch khổng lồ và không ngừng gia tăng qua từng năm. Ước tính mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch của hai nền kinh tế này sẽ gia tăng từ 50-100% so với hiện nay vào năm 2030. Nhóm các nước phát triển có mức độ gia tăng tiêu thụ năng lượng trung bình hằng năm hiện nay vào khoảng 0,7%/năm trong khi con số này ở các nước đang phát triển là 2,5%/năm.
Điển hình là Trung Quốc và Ấn Độ với mức tiêu thụ năng lượng tăng từ 8% vào năm 1980 lên đến 18% vào năm 2005 trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới [1]. Hiện nay Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành nước tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới và đi đôi với nó cũng là mức phát thải CO2 hằng năm cao nhất thế giới (chiếm 58% lượng gia tăng phát thải CO2 hằng năm trên toàn thế giới). Hiện trạng phát thải CO2 tại Việt Nam Mặc dù chưa có nghĩa vụ phải cắt giảm phát thải khí nhà kính nhưng lượng khí nhà kính của Việt Nam cũng đang liên tục tăng, từ mức trên 21 triệu tấn CO2 trong năm 1990 lên 150 triệu tấn năm 2000. Dự tính lượng CO2 này sẽ tăng lên 300 triệu tấn vào năm 2020.
Trong đó lĩnh vực năng lượng phát thải khí nhà kính nhiều nhất với 141,17 triệu tấn chiếm 53,1% tổng phát thải, tiếp theo là lĩnh vực nông nghiệp với 88,35 triệu tấn chiếm 33,2% tổng phát thải. Phát thải CO2 từ hoạt động giao thông cũng tăng từ 14% lên 25%. Theo kịch bản trung bình, Bộ Tài Nguyên & Môi trường Việt Nam ước tính phát thải Trang 2 Luận văn thạc sĩ HVCH: Nguyễn Phú Hiếu Nghĩa khí nhà kính từ ngành năng lượng đến năm 2020 là 224 triệu tấn CO2. Các ngành công nghiệp chủ yếu khác đóng góp khoảng 10 triệu tấn phát thải CO2/năm [2].
Ba nhân tố phát triển kinh tế, tăng trưởng dân số và cường độ sử dụng năng lượng trong giao thông là những yếu tố chính làm gia tăng lượng CO2 phát thải tại Việt Nam.1: Phát thải CO2 trong lĩnh vực năng lượng tại Việt Nam năm 2010 (đơn vị: nghìn tấn CO2) Nguồn phát thải Tổng Tỷ lệ (%) Đốt nhiên liệu 124.257,0 88,03 Công nghiệp năng lượng 41.057,9 29,08 Công nghiệp sản xuất và Xây dựng 38.077,6 26,97 Giao thông vận tải 31.817,9 22,54 Thương mại/Dịch vụ 3.097,6 5,03 Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản 1.630,8 1,16 Các ngành khác không sử dụng năng lượng 1.895,8 11,97 Khai thác than 2.243,1 1,59 Dầu và khí đốt tự nhiên 14.170,8 100 (Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường) Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về biến đổi khí hậu tháng 9/2014, Việt Nam thông báo đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10% - 20% so với kịch bản thông thường. Để hạn chế lượng khí phát thải, Bộ Công Thương đang đẩy mạnh triển khai chiến lược tăng trưởng xanh trong đó nổi bật nhất là chương trình mục tiêu quốc gia về “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”; đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn 2055”; dự án “Nâng cao năng lực cho các ngành công nghiệp và thương mại Trang 3 Luận văn thạc sĩ HVCH: Nguyễn Phú Hiếu Nghĩa Việt Nam nhằm kiểm soát phát thải khí nhà kính và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu”,. Trong Diễn đàn Nông nghiệp giảm phát thải khí nhà kính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đặt mục tiêu đến 2020, ngành trồng trọt sẽ giảm 5,7 triệu tấn CO2, tương đương khoảng 10% lượng khí nhà kính trong lĩnh vực trồng trọt. Theo Ủy ban Quốc gia về biến đổi khí hậu, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, Việt Nam sẽ đẩy mạnh việc giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy xây dựng thị trường carbon trong nước, đẩy mạnh sản xuất xanh, tiêu dùng bền vững để thực hiện hiệu quả nội dung, nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh đã đề ra trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và thực hiện nhiệm vụ của một quốc gia với tư cách là thành viên của Công ước Khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), tham gia triển khai các cơ chế mới theo Thỏa thuận chung toàn cầu về biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, Việt Nam sẽ đưa mức cam kết giảm phát thải khí nhà kính vào khung chính sách phát triển kinh tế xã hội, ứng phó biến đổi khí hậu. Trước đó, tháng 6/2014, Việt Nam và Đức đã ký thoả thuận thực hiện dự án “Hỗ trợ các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA) trị giá 4 triệu Euro, thực hiện từ 2014-2018. Dự án sẽ giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường nâng cao năng lực trong công tác điều phối và hướng dẫn các Bộ, Ngành khác trong việc xây dựng và thực hiện các hành động giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Đồng thời góp phần giúp Chính phủ Việt Nam thực hiện các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, đã được nêu rõ trong Chiến lược Tăng trưởng Xanh.
Sự tích tụ CO2 trong khí quyển và hậu quả Sự tăng nhanh về phát thải khí nhà kính đã góp phần không nhỏ đến việc làm trầm trọng hơn thời tiết cực đoan của Việt Nam. Thống kê cho thấy, trong vòng 10 năm trở lại đây, các loại thiên tai như: bão, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn Trang 4 Luận văn thạc sĩ HVCH: Nguyễn Phú Hiếu Nghĩa và các thiên tai khác đã làm chết và mất tích hơn 9.000 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước chiếm khoảng 1,5% GDP/năm. Ðiều đáng lo ngại, những biến động bất thường của thời tiết, khí hậu đã đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp do bị thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, cũng như tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng,. Ðồng thời, biến đổi khí hậu khiến tài nguyên nước suy giảm, hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, miền, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến việc cấp nước ở các vùng nông thôn, thành thị, cũng như các nhà máy thủy điện.
Trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình của trái đất đã tăng 0,5oC và mực nước biển dâng cao thêm 20cm. Theo ước tính, tại Việt Nam mỗi năm thiên tai đã “cướp” đi khoảng 500 người, thiệt hại vào khoảng 1,5% GDP. Với diễn biến gia tăng lượng phát thải và các diễn biến bất thường của khí hậu, theo dự báo đến năm 2100, nhiệt độ trung bình của trái đất sẽ tiếp tục tăng 2 – 4oC, mực nước biển dâng thêm 100cm. Nguy cơ này có thể sẽ gây ngập 40% diện tích Đồng bằng Sông Cửu Long và ảnh hưởng trực tiếp đến 20 triệu dân của Việt Nam.
Tiềm năng nguồn CO2 trong các mỏ khí có hàm lượng CO2 cao tại Việt Nam 1. Tổng quan phân bố khí thiên nhiên tại Việt Nam Nguồn khí Việt Nam tập trung chủ yếu tại các mỏ khí của 6 bể chính gồm: bể sông Hồng, bể Cửu Long, bể Nam Côn Sơn, bể Malay – Thổ Chu, bể Phú Khánh và bể Tư Chính – Vũng Mây. Riêng đối với các bể Hoàng Sa và Trường Sa thì ngay cả Cơ quan Năng lượng quốc tế (EIA) cũng thừa nhận rằng việc đưa ra một ước tính chính xác về tiềm năng dầu khí khu vực này là rất khó. Ở đây hiện chưa được thực hiện thăm dò đầy đủ, có rất ít thông tin Trang 5 Luận văn thạc sĩ HVCH: Nguyễn Phú Hiếu Nghĩa và tình trạng tranh chấp lãnh thổ kéo dài nên đối với hai bể này, các con số đều chỉ mang tính phác họa.
Phân bố các bể khí chính của Việt Nam được minh họa như Hình 1.2: Các bể khí chính của Việt Nam Trang 6 Luận văn thạc sĩ HVCH: Nguyễn Phú Hiếu Nghĩa Trữ lượng khí xác minh và tình hình khai thác khí của Việt Nam theo thống kê của BP qua các năm như sau: Bảng 1.2: Trữ lượng khí xác minh của Việt Nam Năm 1993 2003 2012 2013 3 0,1 0,2 0,6 0,6 Nghìn tỷ m (Nguồn: Viện Dầu khí Việt Nam) Tình hình khai thác khí của Việt Nam theo thống kê của BP qua các năm như sau: Bảng 1.3: Tình hình khai thác khí của Việt Nam Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 3 6,4 7,0 7,1 7,5 8,0 9,4 8,5 9,4 9,8 Tỷ m (Nguồn: Viện Dầu khí Việt Nam) Tổng sản lượng khai thác khí thiên nhiên tại Việt Nam đã đạt mốc 10 tỷ m3 vào năm 2014 và dự kiến tăng lên khoảng 19 tỷ m3 vào năm 2020. Như vậy, với tổng sản lượng khai thác như hiện nay, lượng khí thiên nhiên Việt Nam có thể sử dụng được khoảng 60 năm.