Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự phát triển kinh tế - xã hội tại các nước đang phát triển góp phần nâng cao đời sống nhân dân, nhưng nếu thiếu quy hoạch và quản lý hợp lý sẽ tạo sức ép lớn lên hệ sinh thái. Đối với ngành nông nghiệp, chủ trương của Đảng và Nhà nước đang hướng mạnh vào việc thúc đẩy chăn nuôi theo mô hình tập trung quy mô trang trại thay thế phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ phân tán trong khu dân cư. Tuy nhiên, các cơ sở chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn luôn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không được đánh giá tác động và thiết kế công trình xử lý chất thải bài bản. Việc thực hiện đánh giá tác động môi trường ngay từ giai đoạn lập dự án là công cụ quản lý thiết yếu nhằm ngăn ngừa các xung đột sinh thái và hướng tới phát triển bền vững.

Tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, khu vực Cống Đôi thuộc vùng đất xen canh giữa hai xã Bạch Đằng và Đoàn Lập vốn là vùng chân triều, bãi trũng, canh tác lúa cho năng suất thấp, hiệu quả kinh tế kém. Nhằm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, UBND huyện Tiên Lãng đã phê duyệt chuyển đổi khu vực này thành vùng chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tập trung theo Quyết định số 1873/QĐ-UBND ngày 20/7/2015. Trên cơ sở đó, dự án "Đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi lợn, quy mô 2.400 con" do bà Phan Thị Thúy Bình làm chủ đầu tư được triển khai. Để nhận diện, dự báo và đề xuất giải pháp giảm thiểu các tác động môi trường của dự án, đề tài khóa luận được xác lập với các nhiệm vụ cụ thể:

  1. Đánh giá tính phù hợp của vị trí dự án đối với điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội và quy hoạch sử dụng đất của địa phương.
  2. Thống kê, nhận diện các nguồn gây tác động có liên quan và không liên quan đến chất thải trong từng giai đoạn chuẩn bị, thi công xây dựng và vận hành trang trại.
  3. Tính toán, dự báo định lượng tải lượng và nồng độ các chất ô nhiễm không khí, nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại và tiếng ồn.
  4. Đề xuất các biện pháp kỹ thuật và quản lý khả thi nhằm phòng ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực, đặc biệt là các công trình xử lý chất thải trong giai đoạn vận hành.

Nghiên cứu tập trung vào đối tượng là các yếu tố môi trường tiếp nhận chất thải (không khí, nguồn nước mặt, nước ngầm, đất, hệ sinh thái) và sức khỏe cộng đồng xung quanh khu vực triển khai dự án. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm khu đất dự án có diện tích 91.320 m² tại khu vực Cống Đôi, xã Bạch Đằng, huyện Tiên Lãng; hành lang bảo vệ đê sông Thái Bình (cách đê 25 m, cách sông 30 m về phía Tây); chùa Tỉnh Lạc (cách 850 m); khu dân cư thôn Hoa Đôi (cách 1 km) và thôn Tỉnh Lạc (cách 1,2 km); cùng tuyến đường vận chuyển vật liệu xây dựng cự ly 10 km trên địa bàn huyện. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực hiện khóa luận từ ngày 18/04/2016 đến ngày 08/07/2016, dựa trên tiến độ pháp lý và kế hoạch xây dựng dự án trong giai đoạn từ tháng 12/2015 đến tháng 07/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và các hướng dẫn chuyên ngành đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi:

  • Văn bản pháp luật và quy hoạch: Luật Đê điều số 79/2006/QH11 (Điều 23 quy định hành lang bảo vệ đê); Quyết định số 1873/QĐ-UBND ngày 20/7/2015 của UBND huyện Tiên Lãng phê duyệt dự án đầu tư; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 238574 ngày 25/09/2015 của UBND huyện Tiên Lãng.
  • Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Tiêu chuẩn thiết kế mạng lưới đường ống cấp nước TCXDVN 33:2006; QCVN 05:2013/BTNMT về chất lượng không khí xung quanh; QCVN 06:2009/BTNMT về một số chất độc hại trong không khí xung quanh; QCVN 14:2008/BTNMT về nước thải sinh hoạt; QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp; QCVN 26:2010/BTNMT về tiếng ồn; Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế về tiêu chuẩn vệ sinh lao động đối với tiếng ồn.

Các phương pháp nghiên cứu thực tế đã được tác giả kết hợp áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp thống kê và thu thập tài liệu: Tiếp cận số liệu thiết kế cơ sở của dự án đầu tư trang trại lợn 2.400 con; tài liệu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tiên Lãng và xã Bạch Đằng; các thông số kỹ thuật chăn nuôi của Công ty Cổ phần Phát triển Công nghệ Nông thôn RTD, khuyến nông tỉnh Thái Bình và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Nông Vận.
  • Phương pháp đánh giá nhanh (Rapid Assessment): Sử dụng hệ số ô nhiễm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) để xác định tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt và hệ số phát thải của các phương tiện giao thông vận tải; áp dụng tài liệu hướng dẫn ĐTM của Ngân hàng Thế giới (World Bank - Environmental Assessment Sourcebook, Volume II) để tính toán hệ số và lượng bụi phát sinh từ hoạt động đào đắp đất.
  • Phương pháp mô hình hóa toán học: Ứng dụng mô hình Sutton khuếch tán nguồn đường tính toán lan truyền nồng độ bụi và khí thải (CO, SO2, NOx, TSP, VOC) phát sinh từ xe tải chuyên chở vật liệu; ứng dụng mô hình hộp khuếch tán nguồn mặt tính toán nồng độ chất ô nhiễm do thiết bị cơ giới thi công trên mặt bằng dự án.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu: So sánh trực tiếp các giá trị nồng độ ô nhiễm tính toán được với các giới hạn tối đa cho phép trong các Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia hiện hành.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm hồ sơ kỹ thuật của dự án trang trại chăn nuôi lợn, số liệu hiện trạng địa hình, bản đồ địa chính khu đất cấp phép, các nghiên cứu thực nghiệm được công bố về đặc tính chất thải chăn nuôi của Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam (1999), Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp (2007), Donham & Gustafson (1992), Tamminga (1999) và tài liệu của Đại học Bang Ohio (Hoa Kỳ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mô tả tóm tắt dự án

Chương này trình bày chi tiết về thông tin pháp lý, hiện trạng mặt bằng, các hạng mục xây dựng, quy trình công nghệ chăn nuôi, cân bằng đào đắp đất và nhu cầu nguyên nhiên vật liệu của dự án do bà Phan Thị Thúy Bình làm chủ đầu tư. Khu đất thực hiện có tổng diện tích 91.320 m² tại khu vực Cống Đôi, xã Bạch Đằng, huyện Tiên Lãng (trong đó 87.478 m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Hiện trạng khu đất trước khi thực hiện dự án chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả:

STT Loại hình sử dụng đất Diện tích (m²) Hiện trạng sử dụng
1 Đất ruộng 52.470 Đã thu hoạch
2 Đất ao 30.000 Đã thu hoạch
3 Bãi thả gia cầm, thủy cầm 8.500 Không còn nuôi thả
4 Đất có công trình 350 Nhà trông coi, kho, sân phơi cũ đã ngừng sử dụng
Tổng Toàn bộ khu đất 91.320 Mặt bằng sẵn sàng bàn giao

Quy hoạch mặt bằng bao gồm ba nhóm công trình chính: Nhóm công trình chính (29.886 m² diện tích xây dựng) gồm 4 chuồng nuôi lợn nái chửa và chờ phối (6.843 m²), 2 chuồng lợn cách ly (467 m²), nhà bảo vệ (20 m²), nhà điều hành (40 m²), nhà kỹ thuật (40 m²), nhà sát trùng (50 m²), nhà nghỉ công nhân (225 m²), nhà kho cám (140 m²); Nhóm công trình phụ trợ gồm bể nước (1.000 m²), trạm biến áp 250 kVA (120 m²), trạm bơm 800 m³ (100 m²), nhà để xe (100 m²), sân đường nội bộ (10.000 m²); Nhóm công trình bảo vệ môi trường gồm bể tự hoại 3 ngăn ngầm (10 m²), hệ thống xử lý biogas (5.000 m²), 2 hồ lắng sau biogas (13.000 m²), 5 hồ sinh học (25.000 m²), nhà chứa chất thải 3 gian phân loại rác - ủ phân - chất thải nguy hại (100 m²). Ngoài ra, diện tích quy hoạch ao hồ là 38.000 m² và vườn cây xanh là 23.434 m².

Khối lượng đào đắp đất công trình được tính toán cụ thể: đào móng công trình 2.691 m³, đào hầm biogas 4.000 m³, đào hồ lắng 23.591 m³, tổng lượng đất đào là 30.591 m³. Lượng đất cần đắp tạo mặt bằng là 30.000 m³, lượng dư thừa 591 m³ được tận dụng đắp vườn cây, đạt mức cân bằng đào đắp tại chỗ 100%, không thải đất ra môi trường bên ngoài.

Về quy mô chăn nuôi, trang trại nuôi thường xuyên 2.400 lợn nái. Với tỷ lệ phối chửa 90%, bình quân 2,2 lứa/nái/năm, số con cai sữa 10 con/nái/lứa và tỷ lệ đạt tiêu chuẩn xuất bán 95%, trung bình mỗi năm trang trại sản sinh 47.520 lợn con. Nhu cầu thức ăn do Công ty Cổ phần Phát triển Công nghệ Nông thôn RTD cung cấp gồm 4,8 tấn/ngày (1.752 tấn/năm) cho đàn lợn nái và 1.506,38 tấn/năm cho đàn lợn con. Nhu cầu vacxin hàng năm là 21.600 liều cho lợn nái và 332.640 liều cho lợn con.

Nhu cầu sử dụng nước lớn nhất trong giai đoạn hoạt động là 199,4 m³/ngày, gồm: nước sinh hoạt cho 66 công nhân là 6,6 m³/ngày (định mức 100 lít/người/ngày); nước phun rửa đường và ngoài chuồng 2 m³/ngày; nước cấp chăn nuôi cao điểm đạt 190,8 m³/ngày (2.400 lợn nái tiêu thụ 0,03 m³/con/ngày tương đương 72 m³/ngày; đàn lợn con 23.760 con tiêu thụ 0,005 m³/con/ngày tương đương 118,8 m³/ngày). Điện năng tiêu thụ trung bình 4.500 kWh/tháng. Tổng mức đầu tư dự án là 31 tỷ đồng (vốn tự có 5 tỷ đồng, công ty RTD hỗ trợ 5 tỷ đồng, còn lại là vốn vay ưu đãi; trong đó kinh phí đầu tư cho bảo vệ môi trường là 2 tỷ đồng). Tiến độ thực hiện từ tháng 12/2015 đến tháng 07/2016 đi vào vận hành.

Chương 2: Nghiên cứu, đánh giá một số tác động tới môi trường của dự án

Tác giả đi sâu phân tích, định lượng các nguồn phát thải và dự báo mức độ tác động qua từng giai đoạn của dự án:

Trong giai đoạn chuẩn bị và thi công xây dựng, tác động chiếm dụng đất thể hiện ở việc chuyển đổi 91.320 m² đất lúa và nuôi trồng thủy sản năng suất thấp sang đất trang trại. Hoạt động san lấp đào đắp mặt bằng phát sinh bụi được tính toán theo công thức Ngân hàng Thế giới (với hệ số ô nhiễm E = 0,0135 kg bụi/tấn đất, tỷ trọng đất d = 1,5 tấn/m³, thể tích Q = 30.591 m³), cho tổng lượng bụi đào đắp là 619 kg.

Khối lượng nguyên vật liệu xây dựng cần vận chuyển là 21.809,48 tấn (7.469 tấn bê tông nền và 14.340,48 tấn cát, đá, xi măng). Vận chuyển bằng xe tải 10 tấn trên cự ly 10 km trong 4 tháng thi công tập trung làm phát sinh 18 chuyến xe/ngày, tổng quãng đường 360 km/ngày, mật độ xe tăng 4 - 5 lượt/giờ. Sử dụng mô hình khuếch tán Sutton, nồng độ ô nhiễm gia tăng trên đường vận chuyển được dự báo so sánh với quy chuẩn:

Chỉ tiêu phát thải Nồng độ tính toán C (mg/m³) Quy chuẩn so sánh (QCVN) Giới hạn cho phép (mg/m³)
Khí CO 0,000139 QCVN 05:2013/BTNMT 30
Khí SO2 0,000055 QCVN 05:2013/BTNMT 0,35
Khí NOx 0,000605 QCVN 05:2013/BTNMT 0,2
Bụi tổng số (TSP) 0,000308 QCVN 05:2013/BTNMT 0,3
Khí VOC 0,000133 QCVN 06:2009/BTNMT 0,5

Đối với máy móc thi công trên công trường, lượng nhiên liệu dầu tiêu hao là 13.043 kg trong 120 ngày (5,25 kg/h). Kết quả áp dụng mô hình nguồn mặt (chiều dài L = 300 m, độ cao xáo trộn H = 100 m) cho thấy nồng độ ô nhiễm gia tăng tại công trường rất nhỏ (TSP tăng 0,0001 mg/m³; SO2 tăng 0,0001 mg/m³; NOx tăng 0,0008 mg/m³; CO tăng 0,0003 mg/m³), chất lượng không khí tổng cộng vẫn thấp hơn nhiều so với QCVN 05:2013/BTNMT.

Về chất thải lỏng và chất thải rắn xây dựng: Nước thải thi công phát sinh 1 - 2 m³/ngày có hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS đạt 163 mg/l, vượt 1,63 lần QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B: 100 mg/l). Nước thải sinh hoạt của 30 công nhân xây dựng phát sinh 1,35 m³/ngày (định mức 45 lít/người/ngày) có nồng độ TSS (1.333 - 2.667 mg/l), BOD5 (1.000 - 1.200 mg/l) và COD (1.600 - 2.267 mg/l) vượt rất nhiều lần QCVN 14:2008/BTNMT Cột B. Rác thải xây dựng ước tính chiếm 0,2% vật liệu sử dụng, tương đương 43 tấn. Chất thải nguy hại xây dựng gồm 70 kg dầu mỡ thải (10 thiết bị thi công x 7 lít/lần), 10 kg giẻ lau dính dầu và 5,5 kg vỏ thùng đựng sơn (11 thùng). Tiếng ồn máy móc tại nguồn đạt 70 - 94 dBA (máy ủi 93 dBA, máy khoan 87,5 - 94 dBA, xe tải 82 - 94 dBA), tuy nhiên khoảng cách tới khu dân cư gần nhất từ 1 đến 1,2 km nên mức độ ảnh hưởng suy giảm nhanh.

Trong giai đoạn vận hành, tác động lớn nhất là mùi hôi và khí thải từ chuồng trại, phát sinh từ quá trình phân hủy kỵ khí các hợp chất hữu cơ bài tiết từ lợn. Các khí tạo mùi đặc trưng gồm: amoni NH3 (mùi khai), hydrosunfua H2S (mùi trứng thối), amin CH3NH2 (mùi cá ươn), diamin NH2(CH2)4NH (mùi thịt thối), mercaptan CH3SH, sulfit hữu cơ (CH3)SCH3SSCH3 (mùi bắp cải rữa). Lượng khí CO2 phát sinh từ hô hấp của đàn 2.400 lợn nái ước tính lên tới 1.080 tấn/năm (định mức 450 kg CO2/con/năm). Tác giả tổng hợp các nghiên cứu y tế lao động của Donham & Gustafson (1992) cho thấy công nhân tiếp xúc khí chuồng trại có tỷ lệ mắc triệu chứng ho 67%, đàm 56%, đau họng 54%, chảy nước mũi 45%, đau mắt 39%, nhức đầu 37%, tức ngực 36%. Nước thải chăn nuôi cao điểm 190,8 m³/ngày chứa tải lượng hữu cơ và mầm bệnh rất cao; nước thải sinh hoạt phát sinh 6,6 m³/ngày từ 66 cán bộ công nhân viên. Chất thải rắn chăn nuôi gồm phân lợn, thức ăn thừa, bùn thải biogas; chất thải nguy hại gồm vỏ thuốc thú y, kim tiêm, vỏ lọ sát trùng và xác vật nuôi chết.

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực của dự án trong giai đoạn vận hành

Trên cơ sở nhận diện nguồn thải, tác giả đề xuất các giải pháp kỹ thuật bảo vệ môi trường tập trung vào xử lý mùi, khí thải và nước thải chăn nuôi:

  • Giảm thiểu bụi, khí thải và mùi hôi: Vệ sinh chuồng trại hàng ngày bằng vòi nước áp lực sau khi đã thu gom triệt để phân khô trên nền; lắp đặt hệ thống quạt thông gió công nghiệp trong các dãy chuồng; phun thuốc sát trùng định kỳ tối thiểu 2 tuần/lần khi bình thường và 1 lần/ngày khi có dịch bệnh; tận dụng dải đất 23.434 m² để trồng cây xanh cản gió và tạo vùng đệm sinh thái cách ly mùi với khu vực lân cận; ứng dụng các chế phẩm sinh học kiểm soát mùi.
  • Hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi và sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại 3 ngăn xây ngầm diện tích 10 m². Toàn bộ nước thải chăn nuôi và nước rửa chuồng trại được thu gom bằng hệ thống mương kín đưa về công trình xử lý sinh học liên hoàn nhiều bậc: Bể biogas kỵ khí diện tích 5.000 m² (thu hồi khí sinh học phục vụ năng lượng), tiếp dẫn qua 2 hồ lắng sau biogas diện tích 13.000 m² nhằm lắng đọng cặn hữu cơ lơ lửng, sau đó đưa vào chuỗi 5 hồ sinh học ổn định diện tích 25.000 m² để làm sạch tự nhiên bằng quá trình hiếu khí - kỵ khí tùy tiện. Nước sau xử lý tại hồ sinh học đạt quy chuẩn được tái tuần hoàn sử dụng tưới cây trong trang trại và làm nguồn nước dự phòng phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu của khóa luận mang lại các kết quả tính toán định lượng cụ thể dựa trên cơ sở khoa học:

  • Định lượng toàn diện nguồn thải: Tính toán chính xác 619 kg bụi phát sinh từ 30.591 m³ đào đắp; xác định nồng độ các khí thải giao thông (CO 0,000139 mg/m³, SO2 0,000055 mg/m³, NOx 0,000605 mg/m³, TSP 0,000308 mg/m³) và khí thải thi công trên công trường đều nằm trong giới hạn QCVN 05:2013/BTNMT; định lượng 43 tấn rác xây dựng và 85,5 kg chất thải nguy hại trong giai đoạn thi công.
  • Giải pháp cân bằng đào đắp: Đề xuất phương án tận dụng toàn bộ 30.591 m³ đất đào từ hầm biogas, hồ lắng và móng công trình để san lấp 30.000 m³ nền và đắp 591 m³ vườn cây, giải quyết hoàn toàn bài toán đổ thải vật liệu đất dư thừa.
  • Quy hoạch hệ thống bảo vệ môi trường quy mô lớn: Thiết lập sơ đồ công nghệ xử lý chất thải với quỹ đất dành riêng cho các công trình xử lý môi trường lên đến 4,31 ha (hơn 47% diện tích tổng mặt bằng), bao gồm 5.000 m² hầm biogas, 13.000 m² hồ lắng và 25.000 m² hồ sinh học với tổng vốn đầu tư môi trường đạt 2 tỷ đồng.

Về mặt đóng góp chuyên môn, khóa luận đã chuyển tải quy trình đánh giá tác động môi trường chuẩn mực vào một dự án thực tế cụ thể trên địa bàn ven biển Hải Phòng; áp dụng mô hình toán học Sutton để minh chứng định lượng tính an toàn môi trường không khí của hoạt động vận tải vật liệu; đồng thời liên kết chặt chẽ giữa tính toán kỹ thuật môi trường với quy trình chăn nuôi thú y khép kín.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các số liệu về nồng độ và tải lượng ô nhiễm trong giai đoạn vận hành (khí chuồng trại, nước thải chăn nuôi) chủ yếu dựa trên các hệ số phát thải lý thuyết của WHO, tài liệu của Ngân hàng Thế giới và số liệu tham chiếu thứ cấp từ các trang trại khác mà chưa có số liệu thực nghiệm đo đạc phân tích chất lượng nước thải thực tế tại dự án do công trình chưa đi vào vận hành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần xây dựng kế hoạch quan trắc môi trường định kỳ khi trang trại đi vào hoạt động chính thức với đầy đủ công suất 2.400 lợn nái; lấy mẫu phân tích thực nghiệm các chỉ tiêu COD, BOD5, Tổng N, Tổng P, Coliform tại đầu ra của chuỗi hồ sinh học 5 bậc nhằm đánh giá chính xác hiệu suất xử lý thực tế của hệ thống.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường khi thực hiện đồ án tốt nghiệp, bài tập lớn môn học Đánh giá tác động môi trường hoặc thiết kế hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi.
  • Kỹ sư tư vấn môi trường thực hiện lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), kế hoạch bảo vệ môi trường cho các dự án trang trại chăn nuôi lợn, gia súc quy mô công nghiệp.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo chuyên sâu gồm: phương pháp áp dụng mô hình Sutton tính toán khuếch tán nguồn đường, công thức Ngân hàng Thế giới tính bụi đào đắp, bảng cân bằng nước cấp - nước thải chăn nuôi và thiết kế chuỗi công trình hồ sinh học sau biogas.

Câu hỏi thường gặp

1. Dự án có quy mô thiết kế đàn lợn và năng lực sản xuất hàng năm là bao nhiêu?
Quy mô nuôi thường xuyên của trang trại là 2.400 lợn nái. Với tỷ lệ phối chửa 90%, bình quân 2,2 lứa/nái/năm, đàn nái sản sinh trung bình 47.520 lợn con/năm (lợn con nuôi cùng mẹ 40 - 45 ngày và nuôi tách mẹ 10 - 15 ngày trước khi xuất chuồng đạt tiêu chuẩn 95%).

2. Tổng nhu cầu dùng nước lớn nhất trong giai đoạn hoạt động là bao nhiêu và được phân bổ thế nào?
Tổng nhu cầu dùng nước lớn nhất của trang trại là 199,4 m³/ngày. Trong đó: nước cấp sinh hoạt cho 66 công nhân là 6,6 m³/ngày (định mức 100 lít/người/ngày); nước phun rửa đường và vệ sinh ngoài chuồng 2 m³/ngày; nước phục vụ chăn nuôi (uống, tắm và rửa chuồng nuôi) vào thời kỳ cao điểm nuôi cả lợn mẹ và lợn con đạt 190,8 m³/ngày.

3. Khối lượng đất đào đắp của dự án được tính toán cân bằng ra sao?
Tổng khối lượng đất đào ước tính là 30.591 m³ (đào móng 2.691 m³, đào hầm biogas 4.000 m³, đào hồ lắng 23.591 m³). Lượng đất cần đắp là 30.000 m³, phần còn lại 591 m³ được sử dụng để tôn tạo vườn cây xanh. Toàn bộ lượng đất đào được tận dụng triệt để tại chỗ, không thải ra ngoài môi trường.

4. Hệ thống công trình xử lý chất thải chăn nuôi của trang trại gồm những hạng mục nào và diện tích bao nhiêu?
Hệ thống xử lý nước thải và chất thải chăn nuôi gồm: bể tự hoại 3 ngăn ngầm 10 m² cho sinh hoạt; hệ thống hầm ủ Biogas diện tích 5.000 m²; chuỗi 2 hồ lắng sau biogas diện tích 13.000 m²; hệ thống 5 hồ sinh học ổn định diện tích 25.000 m²; và nhà chứa chất thải diện tích 100 m² chia làm 3 gian để ủ phân, chứa rác thải và lưu giữ chất thải nguy hại.

5. Kết quả dự báo nồng độ các chất ô nhiễm từ phương tiện vận chuyển vật liệu theo mô hình Sutton cho thấy điều gì?
Tính toán khuếch tán với mật độ vận chuyển 18 chuyến xe/ngày (xe tải 10 tấn, cự ly 10 km) cho thấy nồng độ gia tăng của các chất ô nhiễm tại mép đường là rất nhỏ: CO đạt 0,000139 mg/m³, SO2 đạt 0,000055 mg/m³, NOx đạt 0,000605 mg/m³, TSP đạt 0,000308 mg/m³, VOC đạt 0,000133 mg/m³; tất cả đều nằm sâu dưới ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT và QCVN 06:2009/BTNMT.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Mai Linh đã hoàn thành việc đánh giá toàn diện các tác động môi trường tiềm tàng của dự án trang trại chăn nuôi lợn 2.400 con tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Thông qua việc kết hợp các phương pháp đánh giá nhanh của WHO, hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới và mô hình khuếch tán Sutton, nghiên cứu đã định lượng cụ thể tải lượng phát thải bụi, khí độc, nước thải và chất thải nguy hại trong cả hai giai đoạn thi công và vận hành. Các giải pháp bảo vệ môi trường được đề xuất, đặc biệt là hệ thống xử lý sinh học liên hoàn gồm hầm biogas, hồ lắng và 5 hồ sinh học trên diện tích hơn 4,3 ha, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về phòng ngừa ô nhiễm đối với khu vực nhạy cảm ven đê sông Thái Bình. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với công tác đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi công nghiệp tập trung.