Mở đầu. Chƣơng 2: Thiết kế hình học đƣờng ô tô, kiến trúc cảnh quan đƣờng ô tô Chƣơng 3: Ứng dụng phần mềm Civil3D, …để thiết kế và phối cảnh đƣờng ô tô. Chƣơng 4: Phối cảnh để đánh giá hiệu ứng thị giác cho một số trƣờng hợp cụ thể khi thiết kế đƣờng. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị.
3 CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ HÌNH HỌC ĐƢỜNG Ô TÔ, KIẾN TRÚC CẢNH QUAN ĐƢỜNG Ô TÔ Phát triển hệ thống đƣờng ô tô đồng nghĩa với đòi hỏi phải thiết kế và xây dựng một tuyến đƣờng ôtô đạt chất lƣợng cao, thể hiện qua tính tiện nghi, thuận lợi, xe chạy an toàn, tốc độ cao, đồng thời tuyến đƣờng thoả mãn tốt nhất sự hài hoà với địa hình tự nhiên hay nói khác là phải có tính thẩm mỹ cao tƣơng ứng với đồng tiền mà chúng ta phải bỏ ra để xây dựng đƣờng. Bƣớc thiết kế bình đồ có ý nghĩa khai sinh ra tuyến đƣờng, góp phần quan trọng đối với chất lƣợng của đƣờng khi đƣa vào khai thác sử dụng.1 Thiết kế hình học đƣờng ô tô. Thiết kế các đoạn tuyến nằm trên đƣờng thẳng Tuyến thẳng thƣờng đƣợc thiết kế trong các trƣờng hợp qua vùng đồng bằng, vùng thung lũng rộng, đoạn qua cầu lớn, cầu vƣợt và hầm. Đƣờng thẳng có ƣu điểm là hƣớng tuyến rõ ràng, tuyến ngắn, đo đạc đơn giản,.Nhƣng đƣờng thẳng quá dài, cảnh quan đơn điệu, thƣờng làm cho lái xe mệt mỏi, dễ vƣợt tốc độ quy định, dễ chủ quan ƣớc lƣợng cự ly thƣờng sai, đồng thời gây lóa về ban đêm do đèn pha của xe đi ngƣợc chiều.
Đƣờng thẳng dài cũng khó thích hợp với địa hình thay đổi, làm mất sự hài hòa tuyến với môi trƣờng. Tất cả những bất lợi trên làm cho đoạn tuyến thẳng quá dài trở thành đoạn tuyến không an toàn cho xe chạy với tốc độ cao. Theo các nghiên cứu thực nghiệm ở nƣớc ngoài cho thấy đoạn tuyến thẳng càng dài, tai nạn càng nhiều, hơn nữa tốc độ xe chạy đến cuối đoạn càng cao. Do vậy, các quy trình thiết kế đƣờng Việt Nam quy định nên tránh thiết kế đoạn tuyến thẳng dài quá 4 km đối với đƣờng cao tốc, trong các trƣờng hợp này nên thay bằng các đƣờng cong góc chuyển hƣớng nhỏ và bán kính lớn (R từ 5.000m) CHLB Đức và Nhật Bản cũng quy định : chiều dài (tính bằng m) tối đa đoạn thẳng thích hợp lấy bằng 20 lần tốc độ xe chạy (tính bằng km/h).
Quy định này dựa vào thời gian xe chạy theo tốc độ vào khoảng 72s. Tuyến thẳng quá ngắn cũng không cho phép vì làm điều kiện chạy xe thay đổi nhiều và không có đủ chỗ bố trí cấu tạo đoạn chêm nối tiếp giữa các đƣờng cong. Theo kinh nghiệm thì chiều dài tối thiểu các đoạn thẳng giữa hai đƣờng cong cùng chiều là 6V và giữa hai đƣờng cong ngƣợc chiều là 2V. Trong đƣờng cong tròn cùng chiều do phải liên tục lái vòng cùng chiều, ngƣời lái xe khó nắm đƣợc tác dụng của lực quán tính, lực ly tâm tăng lên liên tục nên quy định chiều dài đoạn thẳng phải dài hơn so với đoạn thẳng giữa hai đƣờng cong tròn ngƣợc chiều.
1 Quan hệ phối hợp giữa chiều dài đoạn thẳng và bán kính đường cong Trên quan điểm thị giác và an toàn, CHLB Đức còn quy định quan hệ giữa chiều dài đoạn thẳng L (m) và bán kính đƣờng cong R (m) nối tiếp với đƣờng thẳng đó nhƣ đồ thị hình 2.1 Nói chung, quan hệ tối thiểu là - Nếu L ≤ 500m thì R ≥ L - Nếu L > 500m thì R ≥ 500 2. Đặc điểm của sự chuyển động của ô tô trong đƣờng cong tròn. Khi chạy trong đƣờng cong tròn, xe phải chịu nhiều điều kiện bất lợi hơn so với khi chạy trong đƣờng thẳng. Những điều kiện bất lợi đó là: 1.
Khi chạy trong đƣờng cong xe phải chịu thêm lực li tâm, lực này nằm ngang trên mặt phẳng thẳng góc với trục chuyển động, hƣớng ra phía ngoài đƣờng cong và có giá trị C= (kG) (2.1) Trong đó: C – lực ly tâm m – khối lƣợng của xe (kg) v – tốc độ xe chạy (m/s) 5 R – bán kính đƣờng cong tại vị trí tính toán (m) Lực ly tâm có tác dụng xấu, có thể gây ra những khó khăn sau : + Xe có khả năng bị lật hoặc trƣợt ngang về phía lƣng đƣờng cong. + Gây khó khăn cho việc điều khiển xe, gây khó chịu cho hành khách, gây đổ vỡ hàng hoá vận chuyển. + Gây biến dạng ngang của lốp xe nên làm cho săm lốp chóng hao mòn hơn. + Làm tăng sức cản do đó làm tiêu hao nhiên liệu nhiều hơn.
Xe chạy trong đƣờng cong yêu cầu có bề rộng phần xe chạy lớn hơn trên đƣờng thẳng thì xe mới chạy đƣợc bình thƣờng. 2 Các lực tác dụng khi xe chạy trong đường cong 3. Xe chạy trong đƣờng cong dễ bị cản trở tầm nhìn nhất là khi bán kính đƣờng cong nhỏ, ở đoạn đƣờng đào. Tầm nhìn ban đêm của xe chạy trong đƣờng cong cũng bị hạn chế do pha đèn chiếu thẳng một đoạn ngắn hơn.
Lực ngang và lựa chọn hệ số lực ngang. Khi xe chuyển động trong đƣờng cong thì ôtô chịu hai lực tác dụng: 6 - Trọng lƣợng bản thân G của xe có hƣớng vuông góc với mặt phẳng nằm ngang. - Lực ly tâm C hƣớng ra ngoài đƣờng cong và vuông góc với trục chuyển động, lực ly tâm có giá trị : c (2.2) Chiếu các lực tác dụng lên ô tô theo phƣơng song song với mặt đƣờng đƣợc công thức tính lực ngang Y tác dụng lên ôtô: Y = C.3) Dấu “+” : trong trƣờng hợp bình thƣờng, mặt đƣờng hai mái và xe chạy ở làn ngoài (xe chạy phía lƣng đƣờng cong). Dấu “-” : trong trƣờng hợp cấu tạo siêu cao, dốc đổ về phía bụng đƣờng cong (xe chạy phía bụng đƣờng xong).
α : là góc nghiêng của mặt đƣờng so với phƣơng nằm ngang. h : là chiều cao trọng tâm của xe tới mặt đƣờng. b : chiều rộng của hai bánh xe. Vì góc α rất nhỏ α cos α =1; sin α tg α in : là độ dốc ngang của mặt đƣờng.5) Với : là hệ số lực ngang, đặc trƣng cho lực ngang tác dụng trên một đơn vị trọng lƣợng của xe và dùng trong thiết kế đƣờng.
Trong đó: Y là tổng lực ngang.; G là trọng lƣợng của ô tô. Từ đó tính đƣợc bán kính đƣờng cong nằm R theo hệ số lực đẩy ngang và vận tốc xe chạy: v : ( m/2) (2.7) “+” khi xe chạy phía bụng đƣờng cong “-“ khi xe chạy phía lƣng đƣờng cong 7 LỰA CHỌN HỆ SỐ LỰC NGANG. Lực ngang, tuỳ theo hệ số của nó, có thể gây ra những tác động bất lợi cho xe chạy trong đƣờng cong: - Làm lật xe qua điểm tựa là bánh xe ở phía lƣng đƣờng cong. - Làm cho xe bị trƣợt ngang trên đƣờng.
- Gây cảm giác khó chịu cho hành khách và ngƣời lái xe. - Làm tiêu hao thêm nhiên liệu và tăng hao mòn săm lốp. Vì vậy cần phân tích từng mặt của vấn đề ta sẽ lựa chọn đƣợc hệ số lực ngang tính toán cần thiết để đảm bảo cho xe chạy an toàn và kinh tế. Điều kiện ổn định chống lật.
Dƣới tác dụng của lực ly tâm thì xe có thể bị lật quanh bánh xe phía ngoài: Điều kiện ổn định giữa mô men lật và mô men giữ : (2.8) b : khoảng cách giữa hai tâm bánh xe. h: chiều cao của trọng tâm xe. Thực nghiệm có đƣợc : độ dịch ngang của thân xe ô tô so với bánh, thƣờng lấy Thông thƣờng : đối với xe du lịch. = đối với xe buýt.
Nếu lấy giá trị (b/h=2) thì ta có µ ≤ 0,6 Nhƣ vậy khi µ ≤ 0,6 thì điều kiện trên luôn đảm bảo. Điều kiện ổn định chống trƣợt ngang. Phân tích các lực tác dụng vào các bánh xe Để đảm bảo xe không bị trƣợt ngang trên mặt đƣờng thì : 8 Y≤ G.2 : là lực bám giữa bánh xe và mặt đƣờng theo phƣơng ngang G : trọng lƣợng của ô tô. 2 : hệ số bám theo chiều ngang giữa bánh xe và mặt đƣờng.
Y : tổng lực ngang tác dụng lên xe. Nhƣ vậy µ φ2 φ : hệ số bám giữa bánh xe với mặt đƣờng ( gồm hệ số bám dọc và ngang). 3 Các lực tác Với φ1 là hệ số bám dọc của bánh xe và mặt đƣờng. φ Thay vào đó ta có φ2 = (0,6-0,7).
φ Nhƣ vậy ta có các điều kiện của μ nhƣ sau : - Mặt đƣờng khô ráo μ ≤ 0,36 - Mặt đƣờng khô, ẩm sạch μ ≤ 0,24 - Mặt đƣờng ẩm có bùn bẩn μ ≤ 0,12 2. Điều kiện êm thuận và tiện nghi với hành khách. Khi chịu tác dụng của lực li tâm, hành khách cảm thấy khó chịu, nhiều khi sợ hãi có cảm giác xe bị lật đổ. Điều tra theo thực nghiệm cho ta các kết quả nhƣ sau : ≤0,1 thì hành khách không cảm thấy xe chạy trên đƣờng cong.
=0,15 thì hành khách hơi cảm thấy trên đƣờng cong. =0,2 thì hành khách cảm thấy khó chịu. 9 =0,3 thì hành khách cảm thấy bị xô dạt về một phía Để đảm bảo êm thuận và thoải mái cho hành khách nên chọn 0,15 và trong điều kiện khó khăn, khi hành khách có chuẩn bị cho phép dùng tới 0. Đƣờng clothoid Đƣờng clothoid là đƣờng phù hợp nhất để làm đƣờng cong chuyển tiếp trong số các đƣờng cong đã đƣợc nghiên cứu từ trƣớc đến nay.
Đối với đƣờng ôtô có tốc độ tính toán từ 60km/h trở lên nó là một yếu tố tuyến quan trọng để cải thiện hình dạng đƣờng ôtô.Trong đoạn sử dụng của đƣờng cong này nó lệch rất ít so với bánh chuyển hƣớng của xe ô tô trong quá trình xe tăng hoặc giảm tốc. Ngƣời ta sử dụng đƣờng clothoid không chỉ để làm đƣờng cong chuyển tiếp mà còn sử dụng làm yếu tố tuyến. Một xe chạy với tốc độ không đổi và bánh chuyển hƣớng của nó quay với tốc độ góc không đổi sẽ vẽ lên quỹ đạo của đƣờng cong clothoid. Đó là một đƣờng cong mà độ cong liên tục tăng lên đều đặn theo cùng một hƣớng từ 1/R=0 đến 1/R= (xem hình 2.
Tích số của chiều dài đƣờng cong và bán kính tại điểm đang xét là một hằng số: L.R = cosntant Hằng số khi định nghĩa đƣờng cong đƣợc thay bằng một thông số viết dƣới dạng bình phƣơng (tƣơng tự nhƣ là vế trái của phƣơng trình). Theo đó lập đƣợc phƣơng trình của đƣờng cong clothoid : L. 4 Đường clothoid trong tọa độ vuông góc Thông số đƣờng cong clothoid : A R.