Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình sở hữu diện tích tự nhiên 5.647 ha, bao gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 2.434,6 ha và phân khu phục hồi sinh thái 3.212,4 ha với đỉnh núi cao nhất đạt 1.349 m. Mặc dù địa hình hiểm trở với độ dốc bình quân trên 30 độ, khu vực này lại chứa đựng hệ sinh thái rừng nhiệt đới phong phú, đóng vai trò là bể chứa nguồn gen thực vật làm thuốc vô cùng giá trị. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế của 4 xã vùng lõi gồm Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng còn nhiều khó khăn khi mức thu nhập bình quân chỉ đạt khoảng 3 triệu đồng/người/năm, nguồn lương thực tự cấp chỉ đạt 60,4 kg/người/năm, đáp ứng vẻn vẹn 25% nhu cầu sinh hoạt. Áp lực sinh kế đã dẫn đến tình trạng khai thác kiệt quệ và xâm lấn rừng tự nhiên, đe dọa nghiêm trọng tới sự tồn vong của nhiều loài thảo dược quý hiếm.

Trước thực trạng đó, công trình nghiên cứu được triển khai từ tháng 3/2016 đến tháng 11/2016 nhằm tập hợp có hệ thống danh lục các loài cây thuốc, đánh giá mức độ đa dạng về mặt phân loại học, dạng sống, sinh cảnh phân bố, bộ phận sử dụng và tri thức bản địa chữa bệnh của các dân tộc thiểu số tại địa phương. Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học thực chứng để xây dựng giải pháp bảo tồn gen bền vững cho 479 loài cây thuốc được ghi nhận, đồng thời định hướng phát triển sinh kế dưới tán rừng cho 2.207 hộ dân với 11.207 nhân khẩu tại vùng đệm và vùng lõi khu bảo tồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết Bảo tồn Đa dạng sinh học và Khung Đánh giá Tri thức Sinh thái Bản địa (TEK - Traditional Ecological Knowledge). Hệ thống lý luận vận dụng mô hình phân loại học thực vật kết hợp với nghiên cứu thực vật dân tộc học (Ethnobotany) nhằm phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa quần xã thực vật tự nhiên và kinh nghiệm chữa bệnh truyền thống.

Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa và xuyên suốt toàn bộ luận văn bao gồm:

  1. Tài nguyên cây thuốc bản địa: Các loài thực vật tự nhiên chứa hoạt chất sinh học được cộng đồng địa phương khai thác phục vụ mục đích phòng và trị bệnh.
  2. Đa dạng phân loại học (Taxonomic Diversity): Mức độ phong phú và tỷ lệ phân bổ của các bậc phân loại từ ngành, lớp, họ, chi đến loài trong một sinh cảnh xác định.
  3. Dạng sống thực vật: Phản ánh đặc điểm thích nghi hình thái và sinh thái của cây thuốc (thân gỗ, thân thảo, cây bụi, dây leo) đối với điều kiện lập địa.
  4. Tri thức y học dân gian: Hệ thống kinh nghiệm chẩn trị, thu hái, sơ chế và phối ngũ dược liệu được lưu truyền qua nhiều thế hệ của đồng tộc người Tày, Mường và Dao.
  5. Bảo tồn nguyên vị (In-situ Conservation): Phương thức duy trì, bảo vệ quần thể loài ngay tại sinh cảnh tự nhiên trong các phân khu chức năng của khu bảo tồn.

Phương pháp nghiên cứu

Công trình áp dụng hệ phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra xã hội học có sự tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo tính đại diện và độ chính xác khoa học cao:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu thực địa: Khảo sát toàn diện trên 6 tuyến điều tra chính (từ T1 đến T6) đại diện cho các dạng địa hình và sinh cảnh đặc trưng của 4 xã vùng lõi. Tuyến khảo sát được mở rộng theo phương pháp tuyến xương cá với cự ly 500 m lập một tuyến phụ, thu thập mẫu vật cây thuốc trong phạm vi dải quan sát 10 m mỗi bên tuyến. Mỗi loài thực vật đều được thu thập từ 5 đến 6 mẫu tiêu bản tươi kèm tọa độ định vị GPS.
  • Phương pháp phỏng vấn PRA: Phỏng vấn sâu 7 thầy lang, bà mế giàu kinh nghiệm thuộc các dân tộc Tày, Dao, Mường (như bà Lường Thị Ích 64 tuổi, ông Triệu Văn Hạ 49 tuổi, bà Lường Thị Hợi 56 tuổi) cùng hàng chục tiểu thương kinh doanh dược liệu tại thị trấn Đà Bắc thông qua bảng hỏi bán cấu trúc để ghi nhận chính xác 13 nhóm bệnh điều trị và phương pháp thu hái.
  • Phương pháp phân tích và định loại: Mẫu vật thực vật sau khi làm khô được khử trùng bằng cồn tẩm dung dịch mercuric chloride nồng độ 0,3% đến 0,5% để chống mối mọt phá hoại. Tên khoa học và khung phân loại được đối chiếu, chuẩn hóa theo bộ sách Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001, 2005) và Cây cỏ Việt Nam của tác giả Phạm Hoàng Hộ. Phân tích mức độ đe dọa tuyệt chủng dựa trên Sách đỏ Việt Nam 2007, Danh lục đỏ IUCN 2015 và Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Việc lựa chọn phương pháp phân loại hình thái so sánh kết hợp tra cứu danh pháp quốc tế là giải pháp tối ưu nhằm hạn chế tối đa sai số định danh trong điều kiện thực địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa đã thu thập, định danh và xác lập danh lục hoàn chỉnh gồm 479 loài cây thuốc thuộc 350 chi, 126 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh:

  1. Ngành Hạt kín (Angiospermae) chiếm ưu thế tuyệt đối: Chiếm 444 loài (đạt tỷ lệ 92,69%), 323 chi (92,29%) và 107 họ (84,92%). Trong đó, lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) áp đảo với 387 loài (chiếm 87,16% tổng số loài ngành Hạt kín), lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) chiếm 57 loài (12,84%).
  2. Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) đứng thứ hai về độ phong phú: Ghi nhận 28 loài (chiếm 5,85% tổng số loài), 20 chi (5,71%) thuộc 14 họ (11,11%). Các ngành còn lại chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn gồm ngành Hạt trần (Gymnospermae) với 4 loài (0,84%), ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 2 loài (0,42%) và ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta) chỉ có 1 loài duy nhất (0,21%).
  3. Sự tập trung cao độ ở các họ và chi ưu thế: Bốn họ giàu loài nhất (chiếm trên 15 loài/họ) gồm họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 38 loài (7,93%), họ Cúc (Asteraceae) có 28 loài (5,85%), họ Vang (Caesalpiniaceae) và họ Đậu (Fabaceae) đều có 16 loài (3,34%). Ở cấp chi, chi Sung (Ficus) đa dạng nhất với 10 loài, tiếp theo là chi Nghể (Polygonum) với 7 loài, các chi Begonia, Canarium, Senna, Phyllanthus, Mallotus đều có 4 loài.
  4. Chỉ số đa dạng vượt trội so với quy mô diện tích: Mặc dù diện tích tự nhiên của khu bảo tồn chỉ tương đương khoảng 1,7% so với một số vùng sinh thái trọng điểm, số lượng taxon cây thuốc tại đây lại chiếm tới 83,33% tổng số ngành, 41,04% tổng số họ, 22,26% tổng số chi và 12,44% tổng số loài cây thuốc được ghi nhận trên toàn lãnh thổ Việt Nam (so với 3.849 loài theo thống kê của Viện Dược liệu).

Thảo luận kết quả

Cơ cấu phân loại học của hệ cây thuốc tại Phu Canh phản ánh sự thích nghi sinh thái đặc thù của đới rừng mưa nhiệt đới thường xanh trên nền đất feralit mùn đỏ vàng tầng dày trên 120 cm. Ưu thế của lớp Hai lá mầm và các họ Thầu dầu, Cúc, Đậu hoàn toàn tương đồng với quy luật phân bố thảm thực vật tự nhiên miền Bắc Việt Nam.

Dữ liệu phân bố được biểu diễn rõ ràng qua biểu đồ hình tròn về tỷ lệ taxon giữa các ngành và biểu đồ thanh ngang so sánh mức độ đa dạng giữa 13 nhóm bệnh điều trị. Cụ thể, các loài cây chữa bệnh về tiêu hóa, bệnh ngoài da, bệnh xương khớp và bệnh ngoại cảm chiếm tỷ trọng cao nhất trong các bài thuốc dân gian.

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu tại Chiềng Yên (Sơn La) với 209 loài hay khu bảo tồn Con Cuông (Nghệ An), tính đa dạng tại Phu Canh nổi trội hơn nhờ có sự giao thoa tri thức sâu sắc của 3 dân tộc chính gồm Tày (85,34%), Dao (9,47%) và Mường (4,16%). Tuy nhiên, các loài quý như Bảy lá một hoa (Paris chinensis), Khôi tía (Ardisia silvestris), Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum), Ba gạc (Rauvolfia verticillata) đang bị đe dọa nghiêm trọng do phương thức thu hái tận diệt phục vụ thương mại tự phát, đòi hỏi phải có biện pháp can thiệp khoanh vùng cấp bách.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn nguyên vẹn nguồn tài nguyên cây thuốc và phát huy giá trị tri thức bản địa, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với chủ thể, chỉ số đo lường và lộ trình cụ thể:

  1. Thiết lập phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt và cắm mốc sinh cảnh trọng yếu: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh chủ trì phối hợp với Hạt Kiểm lâm Đà Bắc tiến hành rà soát, cắm mốc bảo vệ 2.434,6 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Mục tiêu giảm thiểu 85% các vụ khai thác trộm thảo dược quý hiếm, hoàn thành trong giai đoạn 2017 - 2019.
  2. Xây dựng vườn ươm giống và mô hình trồng cây thuốc dưới tán rừng: Ủy ban nhân dân huyện Đà Bắc liên kết với Hội Nông dân và Trạm Khuyến nông triển khai 2 vườn ươm giống bản địa diện tích 2 ha tại xã Tân Pheo và Đồng Chum; nhân rộng 15 ha mô hình trồng thương phẩm các loài có giá trị cao như Khôi tía, Giảo cổ lam, Sa nhân. Mục tiêu nâng thu nhập của các hộ tham gia thêm 35% - 40% trong giai đoạn 2018 - 2021.
  3. Tư liệu hóa và đăng ký sở hữu trí tuệ tri thức bản địa: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình phối hợp cùng Viện Dược liệu tiến hành số hóa toàn bộ 13 nhóm bài thuốc dân gian của các danh y người Dao, Tày, Mường; xây dựng hồ sơ chỉ dẫn địa lý và bảo hộ bản quyền tri thức trước năm 2020.
  4. Phát triển chuỗi liên kết giá trị và kiểm soát thị trường dược liệu: Thành lập Hợp tác xã Dược liệu bền vững Đà Bắc nhằm liên kết chặt chẽ giữa 100% người thu hái với các công ty sản xuất đông dược uy tín theo tiêu chuẩn thực hành tốt nuôi trồng và thu hái (GACP-WHO), kiểm soát triệt để tình trạng bán thảo dược thô giá rẻ qua thương lái trung gian từ năm 2020 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà khoa học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Thực vật học, Dược liệu học, Lâm sinh và Quản lý tài nguyên rừng: Sử dụng danh lục 479 loài đã được định loại chuẩn xác cùng dữ liệu phân bố sinh cảnh làm tài liệu đối chiếu cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về phân loại học và sinh hóa thực vật.
  2. Ban quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia và Chi cục Kiểm lâm: Áp dụng quy trình điều tra 6 tuyến thực địa, kỹ thuật lập hồ sơ mẫu vật và phương pháp phỏng vấn nhanh PRA để triển khai các chương trình giám sát đa dạng sinh học định kỳ tại đơn vị.
  3. Cơ quan hoạch định chính sách, Ủy ban nhân dân cấp huyện, tỉnh miền núi: Tham khảo phân tích thực trạng sinh kế và mối tương quan kinh tế - xã hội để xây dựng các đề án phát triển dược liệu dưới tán rừng, lồng ghép vào Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững.
  4. Doanh nghiệp y dược, cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền: Khai thác danh mục hoạt chất tự nhiên và nguồn bài thuốc dân tộc phong phú tại Phu Canh để định hướng đầu tư vùng nguyên liệu sạch, phục vụ công tác bào chế và thương mại hóa sản phẩm thảo dược.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thực vật làm thuốc tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh có quy mô đa dạng như thế nào?

Khu bảo tồn sở hữu nguồn tài nguyên phong phú với 479 loài cây thuốc thuộc 350 chi, 126 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Mặc dù diện tích chỉ chiếm một phần nhỏ trong khu vực đồi núi Tây Bắc, mật độ loài tại đây chiếm tới 12,44% tổng số loài cây thuốc của toàn quốc, minh chứng cho sự đa dạng sinh thái vượt bậc của thảm rừng nhiệt đới địa phương.

Những họ thực vật nào chiếm số lượng loài làm thuốc nhiều nhất tại khu vực nghiên cứu?

Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) dẫn đầu với 38 loài, tiếp đến là họ Cúc (Asteraceae) với 28 loài, họ Vang (Caesalpiniaceae) và họ Đậu (Fabaceae) đều sở hữu 16 loài. Nhóm 4 họ này tuy chỉ chiếm 3,17% tổng số họ nhưng lại đóng góp tới 20,46% tổng số loài cây thuốc được ghi nhận trên toàn địa bàn nghiên cứu.

Vì sao nghiên cứu lại kết hợp phương pháp điều tra thực địa theo tuyến với phỏng vấn nhanh PRA?

Phương pháp điều tra thực địa trên 6 tuyến giúp thu thập mẫu vật xác thực để định loại khoa học chính xác, trong khi phương pháp PRA cho phép tiếp cận trực tiếp kho tàng tri thức chữa bệnh gia truyền của 7 danh y bản địa người Dao, Tày, Mường. Sự kết hợp này bảo đảm kết quả nghiên cứu vừa mang tính học thuật chuẩn mực vừa chứa đựng giá trị thực tiễn cao.

Các bài thuốc dân gian tại địa phương được ứng dụng điều trị những nhóm bệnh nào phổ biến nhất?

Nghiên cứu đã hệ thống hóa các bài thuốc vào 13 nhóm bệnh lý khác nhau theo phân loại y học cổ truyền. Trong đó, các nhóm bệnh có tỷ lệ cây thuốc điều trị cao nhất bao gồm bệnh đường tiêu hóa, bệnh đau nhức cơ xương khớp, bệnh ngoài da mụn nhọt lở loét và các chứng bệnh phụ khoa của phụ nữ vùng cao.

Đâu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nguy cơ suy giảm nguồn gen cây thuốc tại Phu Canh?

Nguyên nhân gốc rễ bắt nguồn từ áp lực kinh tế khi thu nhập của người dân chỉ đạt khoảng 3 triệu đồng/người/năm và nguồn lương thực chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu, thúc đẩy việc khai thác thảo dược tự phát để bán cho thương lái. Bên cạnh đó, các hoạt động phá rừng làm nương rẫy và chăn thả gia súc tự do cũng làm chia cắt và thu hẹp sinh cảnh sống tự nhiên của cây thuốc.

Kết luận

  • Thống kê và xác lập thành công danh lục 479 loài cây thuốc thuộc 350 chi, 126 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh.
  • Khẳng định ưu thế áp đảo của ngành Hạt kín với 444 loài (92,69%) và lớp Hai lá mầm với 387 loài (87,16%), trong đó họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) giàu loài nhất với 38 loài.
  • Đánh giá chỉ số đa dạng cao vượt trội khi chiếm tới 83,33% số ngành và 12,44% tổng số loài cây thuốc trên cả nước trên một diện tích vùng lõi được bảo tồn chặt chẽ.
  • Hệ thống hóa tri thức y học dân gian độc đáo của cộng đồng các dân tộc Tày (85,34%), Dao (9,47%) và Mường (4,16%) phân bố theo 13 nhóm bệnh lý đặc trưng.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm kết hợp hài hòa giữa bảo tồn nguyên vị 2.434,6 ha vùng lõi và phát triển 15 ha dược liệu kinh tế tại vùng đệm.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện cơ sở dữ liệu phân loại học và bản đồ phân bố tài nguyên cây thuốc tại Phu Canh, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu thực vật dân tộc học tại địa bàn vùng cao huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2017 - 2022 cần tập trung nghiên cứu sâu về thành phần hóa thực vật, thử nghiệm hoạt tính sinh học và xây dựng chuỗi giá trị thương mại hóa dược liệu bền vững. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy cùng chung tay ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn để bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng địa phương.