Mở đầu là công trình nghiên cứu truyện thơ Nôm từ góc độ thể loại với tiêu đề Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (1979). Ở đây, qua nghiên cứu Truyện Kiều dƣới tƣ cách là một tác phẩm tiêu biểu trong chặng đƣờng phát triển của thể loại truyện thơ Nôm, Đặng Thanh Lê đã giải thích những nền tảng chủng loại của thành tựu ấy trong mối quan hệ giữa nhà văn và đội ngũ, giữa tác phẩm và thể loại. Đồng khuynh hƣớng nghiên cứu về thể loại, loại hình truyện thơ Nôm còn có công trình Truyện Nôm nguồn gốc và bản chất thể loại (1992) và sau này là Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại (2007) của Kiều Thu Hoạch. Trên cơ sở nhìn lại chặng đƣờng lịch sử tiếp nhận, Kiều Thu Hoạch đi đến tổng kết trên các phƣơng diện nghiên cứu truyện thơ Nôm, mà cụ thể là cội nguồn lịch sử, thi pháp thể loại, vấn đề tên gọi và phân loại, chức năng tƣ tƣởng thẩm mỹ.
Tiếp cận truyện thơ Nôm dƣới bình diện hình thái học, Nguyễn Phong Nam cho xuất bản công trình tâm huyết Truyện thơ Nôm – những nghiên cứu hình thái học (2008). Trong mối tƣơng quan loại hình, Nguyễn Phong Nam đƣa ra sơ đồ phân loại và từ đó lí giải các giá trị về cấu trúc của truyện thơ Nôm. Cùng đối tƣợng nghiên cứu, Trần Đình Hƣợu lại chọn một hƣớng đi khác, đặt ra vấn đề lý luận quan trọng về nghiên cứu truyện Nôm, mà ông gọi là mẫu hình “nhà nho tài tử”, “truyện thơ Nôm tài tử giai nhân” đƣợc thể hiện trong bài Hoa tiên và vấn đề của nó trong lịch sử truyện Nôm. Theo ông, đó là sự gắn kết của mẫu hình nhà nho tài tử với sức hấp dẫn của ca bản, tiểu thuyết Trung Hoa mà Nguyễn Huy Tự với truyện Hoa tiên là điểm khởi phát, đặt nền tảng cho chủ đề tình yêu tài tử giai nhân ở truyện thơ Nôm về sau.
Hƣớng tiệm cận này đã trở thành công cụ cho công trình nghiên cứu về loại hình học tác giả văn học trong Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (1999) của Trần Ngọc Vƣợng, về Hình tượng nhân vật phụ nữ trong truyện Nôm tài tử giai nhân (1993) của Nguyễn Thị Chiến, về Văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa (2003) của Trần Nho Thìn. Ở bài viết Bàn về Nguyễn Đình Chiểu – người nghệ sĩ từ và trong truyện Nôm, Trần Đình Hƣợu cho rằng 8 truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu mà cụ thể là Lục Vân Tiên truyện, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp đều khác đến trái ngƣợc với truyện thơ Nôm tài tử giai nhân trƣớc đó, cái đích hƣớng đến của của nhân vật, nói đúng hơn là của Nguyễn Đình Chiểu là chữ Nghĩa và các phạm trù đạo đức chứ không phải là tình yêu trai gái nên nhân vật trong truyện “không khát khao yêu đƣơng và không đi tìm kiếm tình yêu”. Có thể nói, truyện thơ Nôm bác học đến trƣờng hợp Nguyễn Đình Chiểu ở cuối thế kỷ XIX đã có chuyển hƣớng, từ phạm trù thân, tình, mang yếu tố cá nhân chuyển sang phạm trù cộng đồng xã hội. Gần đây, trên những thành tựu, vấn đề giới nghiên cứu đi trƣớc đã đặt ra, gợi ý và còn để lại, Nguyễn Thị Nhàn đã tìm đến một cách tiếp cận riêng, chuyên sâu về một phƣơng diện kết cấu cốt truyện trong công trình Thi pháp cốt truyện truyện thơ Nôm và Truyện Kiều (2009).
Với con đƣờng này, tác giả đã tìm hiểu và xác lập bổ sung những mô hình kết cấu mới tiêu biểu trong truyện thơ Nôm và Truyện Kiều ngoài mô hình đã đƣợc xác lập từ trƣớc. Luận án Truyện Nôm bác học từ góc nhìn cổ mẫu (2017) của Nguyễn Quang Huy đặt truyện thơ Nôm bác học trong sự liên hệ với truyền thống trƣớc đó, trong kiểu tƣ duy tiền hiện đại, xem xét cổ mẫu nhƣ một mã để đi vào miền mộng tƣởng văn chƣơng truyện thơ Nôm bác học, đặc biệt là chiều sâu tƣ tƣởng, ở các cấu trúc của nó. Nhìn nhận truyện thơ Nôm trong quan hệ so sánh loại hình – lịch sử với truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng nhƣ truyện thơ khu vực Đông Nam Á và miền Nam Trung Hoa cũng đƣợc một số tác giả quan tâm. Tiêu biểu là công trình Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại (2007) của Kiều Thu Hoạch; Nghiên cứu một số truyện thơ của các dân tộc Thái ở Việt Nam có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh (2013) của Ngô Thị Phƣợng; Truyện thơ Tày – nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại (2015) của Vũ Anh Tuấn.
Đây là khuynh hƣớng mở rộng phạm vi tiếp cận trong tính đối sánh đồng hiện để nhìn nhận sâu rộng hơn con đƣờng phát triển cũng nhƣ bản chất và giá trị của truyện thơ Nôm. Tình hình nghiên cứu loại truyện thơ Nôm tự thuật Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Mai đình mộng ký của Nguyễn Huy Hổ và Lục Vân Tiên truyện của Nguyễn Đình Chiểu đƣợc nhận định là ba tác phẩm tiêu biểu của loại truyện thơ Nôm tự thuật, đã dành đƣợc sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học, văn hóa. Tìm hiểu về nghiên cứu loại truyện thơ Nôm tự thuật, ngoài việc khái quát những công trình, bài nghiên cứu về tác giả và tác phẩm, chúng tôi chú trọng tìm hiểu và nhấn mạnh những nhận định, đánh giá khía cạnh tự thuật của 9 tác phẩm và sự chi phối của ngòi bút tự thuật trên phƣơng diện nội dung và hình thức biểu hiện, làm cơ sở để đánh giá đặc điểm loại truyện thơ Nôm tự thuật. Về truyện thơ Nôm Sơ kính tân trang Nhìn từ góc độ chức năng, văn học trung đại Việt Nam có sứ mệnh đặc biệt là tải đạo, nói chí của ngƣời quân tử.
Tuy nhiên, không phải tất cả thơ văn, nhất là ở chặng cuối tập trung vào những đề tài lớn của đất nƣớc, nhiều tác phẩm không chỉ để chở đạo mà còn xuất hiện nhiều tác phẩm diễn tả những cung bậc tình cảm, những biểu hiện cụ thể trong cuộc sống đời thƣờng, gắn với cuộc đời cá nhân. Điển hình là trƣờng hợp Phạm Thái. Ông viết Sơ kính tân trang vào năm đầu thế kỷ XIX. Là tác phẩm đặc biệt, thiên truyện thơ Nôm này đã đƣợc giới học thuật và độc giả yêu văn thơ chọn làm đối tƣợng khảo cứu.
Đáng chú ý là một số bộ văn học sử, giáo trình lịch sử văn học ở trƣờng đại học, chuyên khảo, tiểu luận nghiên cứu của Triêu Dƣơng, Nguyễn Nghiệp, Trần Nghĩa, Tế Hanh, Trần Nho Thìn, Lại Nguyên Ân, Phạm Thế Ngũ, Vũ Tiến Quỳnh, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Nhàn, Nguyễn Phạm Hùng, Trần Đình Sử, Phạm Nam Trung, Đặng Thị Hảo. Đọc Sơ kính tân trang, các nhà nghiên cứu luôn thống nhất đây “là một thiên tự truyện” [230, tr. Thanh Lãng khẳng định với Sơ kính tân trang, “Phạm Thái đã đem hết tâm tƣ thầm kín của ông ra mà bộc lộ ở đấy: nó là một cuốn truyện tự thuật truyện đời ông và đời của ngƣời yêu ông” [109, tr. Nguyễn Lộc cho rằng tác phẩm “diễn tả lại câu chuyện tình của chính bản thân tác giả” [123, tr.311] với nỗi vui, buồn, đƣợc, mất, bi phẫn và giấc mộng đẹp.
Hoàng Hữu Yên, ngƣời dày công nghiên cứu, hiệu đính, chú giải Sơ kính tân trang khẳng định: “Tính độc đáo trƣớc tiên của Sơ kính tân trang cần đƣợc nhấn mạnh là tính tự truyện của tác giả. Phạm Thái không vay mƣợn cốt truyện ở đâu cả. Ông viết lại chuyện của chính bản thân mình” [243, tr. Đồng quan điểm, Kiều Thu Hoạch thấy tính tự thuật hiện hữu và coi đây là trƣờng hợp thú vị, “là một tác phẩm có tính chất tự truyện của Phạm Thái, nhằm ghi lại mối tình bi thảm giữa nhà thơ tài hoa này với Trƣơng Quỳnh Nhƣ.
Những nhân vật chính trong tác phẩm nhƣ Phạm Kim, Trƣơng Quỳnh Thƣ… chỉ là bản sao chép từ những nguyên mẫu có thật trong hiện thực là Phạm Thái và Trƣơng Quỳnh Nhƣ” [74, tr. Viết Sơ kính tân trang dù với mục đích “nhằm thuật lại mối tình lỡ dở với Trƣơng Quỳnh Nhƣ nhƣng đồng thời tự an ủi mình bằng một giấc mơ” [11, tr.18] hay “không nhằm mục đích giãi bầy bi kịch của đời mình bằng việc tái sinh lại đoạn đời buồn đau đó qua những trang viết” [149, tr.82] thì cũng không thể phủ nhận tính 10 tự thuật của tác phẩm. Rõ ràng, đây là việc “sử dụng đời tƣ của bản thân nhƣ chất liệu để nhận thức, khám phá toàn bộ sự đa dạng và phức tạp trong hoạt động tâm lý và tình cảm của mỗi cá nhân con ngƣời” [163, tr.330] nhƣ nhận xét của nhóm tác giả Từ điển thuật ngữ văn học. Vì thế, tính tự thuật của Sơ kính tân trang đƣa Phạm Thái trở thành hiện tƣợng chƣa từng có ở văn học trung đại, “là ngƣời duy nhất trong các nhà văn cổ điển xây dựng truyện thơ bằng chất liệu đời sống dân tộc, và bằng chính câu chuyện thầm kín của riêng mình” [18, tr.1369], đồng thời, đánh dấu bƣớc đột phá trong phong cách khai thác đề tài của văn học trung đại Việt Nam.
Nghiên cứu tác phẩm tiêu biểu nhất của Phạm Thái không phải lúc nào cũng có những nhận định thống nhất, thậm chí trái ngƣợc. Áp chiếu lập trƣờng, tƣ tƣởng Phạm Thái vào văn bản nghệ thuật, Nguyễn Nghiệp chỉ thấy điểm yếu nên đánh giá thấp: “Xét về toàn bộ tác phẩm mà nói, thử hỏi tác dụng giáo dục Sơ kính tân trang đối với thế hệ chúng ta phỏng đƣợc bao nhiêu. Một con ngƣời với tƣ tƣởng căn bản là phản động và tiêu cực nhƣ Phạm Thái làm sao có thể tạo ra những giá trị nhân đạo cao cả, có tác dụng cho thế hệ đƣợc” [147, tr. Ý kiến trên không nhận đƣợc sự đồng thuận của nhiều nhà nghiên cứu.
Vẫn biết tác phẩm còn điểm hạn chế, song họ đều nhận thấy nét khả thủ là dấu ấn mà tác giả để lại. Theo Đặng Thị Hảo, “Sơ kính tân trang độc đáo và nổi tiếng đến mức về sau hễ cứ nhắc đến tên Phạm Thái, ngƣời ta không thể không hình dung về ông – một nhà thơ đầy phong cách và cá tính” [67, tr. Không chỉ là đỉnh cao sự nghiệp của Phạm Thái, Hoàng Hữu Yên coi đó là “hiện tƣợng văn học hiếm có trong thể loại truyện thơ, một thể loại lớn, phong phú, đa dạng về nội dung và nghệ thuật của nền văn học cổ điển rực rỡ” [11, tr. Ông đánh giá tác phẩm là “bản tình ca độc đáo” [244, tr.