CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số đặc điểm về Linh trưởng ở Việt Nam 1. Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam Theo hệ thống phân loại của Brandon - Jone và cộng sự (2004) [29], khu hệ thú linh trưởng Việt Nam có 24 loài và phân loài thuộc 3 họ là: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae), họ Vượn (Hylobatidae). Trong số 24 loài và phân loài, có 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt Nam: gồm Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Cát Bà (Trachypithecus policocephalus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix nemaeus cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis), Vượn đen Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus).
Theo hệ thống phân loại học phân tử các loài linh trưởng Đông Dương (Christian, 2007) [63] thì Khu hệ thú linh trưởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ: Họ cu li – Loridae, họ khỉ - Cercopithecidae, họ Vượn – Hylobatidae. Trong phần này, đề tài sẽ tập trung mô tả phân loại học và khu phân bố của họ Vượn. Họ vượn - Hylobatidae Các loài Vượn gộp chung thành họ Vượn (Hylobatidae) được gọi là khỉ giả nhân nhỏ, phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á [7, 34, 36, 38], chúng đặc trưng bởi lối vận động, cấu trúc xã hội và thông tin liên lạc. Các loài vượn sống hoàn toàn trên cây và ăn quả là chủ yếu, sự đu tay tạo ra sự chuyển động đặc thù, tập tính treo thân độc đáo và tư thế đứng thẳng thường xuyên, thể hiện sự chuyên hóa cao độ đối với môi trường và chế độ ăn hàng ngày của chúng.
Các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm Symphalangus và Hylobates. Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân 4 giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ vượn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 [7] (Bảng 1.1: Các loài thuộc họ Hylobatidae Số lượng bộ Giống Loài và phân loài Vùng phân bố nhiễm sắc thể Assam, Banglades, Bunopithecus 38 B. hoolock Trung Quốc H.
agilis Đông Sumatra H. agilis albibarbis Phía đông Borneo H. klossii Đảo Mentawai H. lar Bắc Thái Lan Hylobates 44 H.
molocch Tây Giava H. muelleri Tây Borneo H. muelleri abbotti Tây bắc Borneo H. muelleri funereus Bắc Borneo Đông Thái Lan, H.
pileatus Campuchia Symphalangus 50 S. syndactylus Bán đảo Malay Bắc Việt Nam, N. nasutus Bắc Việt Nam N. hainanus Đảo Hải Nam Nomascus 52 Nam Việt Nam, Bắc N.
gabriellae Lào, Tây Capuchia N.leucogenys Lào, Bắc Việt Nam, Nam Yunan Trung Lào, miền N. Siki trung Việt Nam Nguồn (Geissmann và cs., 2000) 5 Các loài thuộc họ vượn Hylobatidae phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á, vùng phân bố của họ vượn Hylobatidae được xác định (Hình 1.1: Vùng phân bố của họ vượn Hylobatidae 1. Một số đặc điểm giống Nomascus Kích thước cơ thể: những cá thể vượn mào hoang dã có trọng lượng cơ thể trung bình là 7 - 8 kg, nặng tương đương với trọng lượng của giống Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lượng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lượng của giống Symphalangus (khoảng 11kg) Đặc điểm sọ: trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt phẳng. Số lượng bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52 Đặc điểm hình thái: Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trưởng thành có đám lông đen trên đầu tương phản với phần lông màu nhạt ở xung quanh.
Có sự lưỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở 6 những cá thể trưởng thành: con đực thường có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thường có mảng lông chẩm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tương tự như màu của con đực trưởng thành. Đến thời gian trưởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trưng của con cái trưởng thành [43]. Phân loại học phân tử giống Nomascus Theo Roos Christian et al.
2007 [41], phân loại học phân tử dựa trên trình tự gen cytochrome b ty thể của 64 cá thể vượn và một cá thể Hylobates lar dùng đối chứng trong đó có 44 dạng khác nhau. Sự khác nhau giữa các cặp từ 0,1 – 8,2%, trong các bậc phân loại sự khác biệt lớn nhất là giữa hai loài N.2: Tỉ lệ sai khác giữa các cặp nucleotit giữa các loài thuộc giống Nomascus 1 2 3 4 5 6 (1) N. gabriellae 7,1-7,8 7,4-7,9 4,8-6,0 3,3-4,6 3,0-3,9 0,1-1,1 Theo cống bố mới nhất năm 2010, đã có thêm một loài vượn mới có tên là vượn mào đen má hung Trung bộ N.anamensis được các nhà khoa học Đức và Việt Nam công bố [46].2: Sơ đồ phân tích Gen các loài thuộc giống Nomascus Như vậy dựa trên các dẫn liệu về các cặp khác nhau và mối quan hệ phát sinh chủng loại thì các loài N. leucogenys được công nhận là các loài riêng biệt.
Dựa trên sơ đồ phát sinh chủng loại của giống Nomascus như trên thì loài N.concolor được coi là loài đơn.3: Sơ đồ mối quan hệ chủng loại phát sinh giữa các loài vượn giống Nomascus 8 Phân bố của giống Nomascus Vượn mào – Nomascus chỉ phân bố ở Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào, phía đông Campuchia và Tây - Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam), sông Mê Kông là giới hạn phía tây của các vùng phân bố của chúng và ngăn cách chúng với giống Hylobates [41]. Những khu vực phân bố hiện nay đã bị chia cắt mạnh gồm những mảnh rừng ít nhiều còn nguyên sinh, biệt lập và nhỏ (Hình 1.sp nay được khẳng định là loài N.4: Sự phân bố của các loài thuộc họ vượn thuộc giống Nomascus Vượn đen tuyền – N. concolor phân bố ở miền Trung và miền Tây của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, tại Bắc Lào có khoảng 9 đàn phân bố ở khu vực rộng khoảng 20km2 thung lũng Nam Kan, tỉnh Bokeo. Ở Việt Nam loài phân bố ở các khu vực giữa sông Hồng và sông Đà, các mẫu vật thu được ở Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Thanh Hóa.
Hiện nay theo kết quả điều tra của Lê Trọng Đạt và cs., 2006 ở Sơn 9 La và Yên Bái thì số lượng quần thể vượn đen tuyền đang bị suy giảm từ 39 nhóm với 91 cá thể năm 2000-2001 còn 25 nhóm với 68 cá thể năm 2006 [51]. leucogenys có vùng phân bố rộng ở Trung Quốc từ miền cực Nam của tỉnh Vân Nam, phía đông sông Hắc Long Giang. Ở Lào vượn má trắng phân bố ở nửa bắc của đất nước, sông Mê Kông cũng là giới hạn phía Tây của loài. Ở Việt Nam phân bố ở các tỉnh miền Tây-Bắc đến phía Tây sông Đà, giới hạn phía Nam của phân loài là phía nam sông Cả (Nghệ An).
Vượn má trắng siki – N. siki phân bố ở phía bắc miền Trung Việt Nam và miền Trung Lào. Sông Mêkông là ranh giới phía Tây vùng phân bố của nó. Phân bố tại ở Việt Nam, hạ lưu sông Cả là giới hạn phía Bắc của loài, giới hạn về phía nam của loài chưa được xác định.
Vượn mào đen má hung Trung bộ (N. annamensis) là một loài vượn mới được phát hiện và công bố năm 2010, thuộc chi vượn mào đen Nomascus, họ Vượn Hylobatidae. Loài vượn này phân biệt khá rõ với các loài vượn mào má sáng màu khác ở các đặc điểm tần số và nhịp độ phát âm thanh gọi bầy, cảnh báo kẻ địch xâm nhập lãnh địa. Phân bố Nam Lào, Nam Việt Nam và Đông-Bắc Campuchia.
Ranh giới phân bố của loài chưa được xác định rõ [46]. gabriellae phân bố ở Nam Lào, nam Việt Nam và đông- bắc Campuchia. Ranh giới phân bố của loài chưa được xác định rõ, có thể giới hạn phía bắc của loài có thể là ở các tỉnh Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Bình Định, Phú Yên hoặc Đăk Lăk [43]. Một số đặc điểm Vượn Cao Vít – N.
nasutus Tên gọi Tên thường gọi: Vượn Cao Vít Tên khoa học: Nomascus nasutus Kunckel d’Herculais, 1884 Năm 1884 Kunkel d’Herculais lần đầu tiên mô tả loài Hylobates nasutus, mẫu vật này sống một thời gian ngắn ở Pari và được ghi nhận là bắt giữ ở gần vịnh Hạ Long, vùng ven biển miền Đông Bắc Việt Nam. Năm 1892, Thomas mô tả một cá thể vượn đực bắt được ở đảo Hải Nam coi như một loài mới – Hylobates 10 hainanus. Năm 1893, Matschie đặt thành H. concolor, là loài được mô tả đầu tiên bởi Harlan (1826) của một cá thể vượn nuôi nhốt sắp trưởng thành có nguồn gốc từ đảo Borneo.
Năm 1904 Pousargues đã xếp cả hai loài H. hainanus thành loài H. nasutus và kết luận rằng mẫu vật mà Harlan (1826) mô tả là H. concolor không phải từ Borneo.
Delacour (1951) cho rằng vượn đen Hải Nam là phân loài khác với vượn đen ở đất liền của Đông Dương là H. nasutus và vượn đen Hải Nam là H. Năm 1957, Simonetta đã đặt lại tên H. concolor cho loài vượn đen Đông Dương (Tonkin black gibbon) và H.
hainanus cho phân loài Hải Nam. Danh pháp này được sử dụng bởi hầu hết các tác giả sau này. Năm 1985 tác giả Đào Văn Tiến [18] đã ghi nhận cả hai phân loài đều xuất hiện ở Việt Nam: H. concolor ở miền Tây Bắc Việt Nam phía tây của sông Hồng và H.
hainanus ở phía Đông Bắc Việt Nam, phía đông của sông Hồng (Geissmann, 1989) [29]. Các ghi nhận về thú linh trưởng ở Việt Nam về sau này đều ghi nhận hai phân loài H. concolor ở phía Tây Bắc và H. hainanus ở phía Đông Bắc Việt Nam [1, 6, 8, 17, 27, 36].
Dựa vào công trình nghiên cứu của Groves (1972) người ta đã đề nghị phân họ Vượn thành bốn giống là Symphalangus, Nomascus, Bunopithecus và Hylobates. Các loài vượn ở Việt Nam đều thuộc giống vượn mào Nomascus bao gồm vượn đen tuyền N. concolor, vượn đen chưa định tên N. nasutus, vượn má vàng N.
gabriellae, vượn má trắng N. leucogenys và phân loài vượn má trắng siki N. siki [7] Năm 2007 dựa trên các dẫn liệu về phân loại sinh học phân tử Roos C.