ĐẶT VẤN ĐỀ Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae hoặc còn gọi là Graminaeae). Thế giới có 36,77 triệu ha rừng tre, trong đó diện tích tre của châu Á là 23,6 triệu ha (FAO, 2005) [44]. Châu Á riêng tại Ấn Độ có tổng diện tích rừng tre trúc khoảng 9,6 triệu ha, với 136 loài khác nhau. Các nƣớc Đông Nam Á có diện tích rừng tre trúc tƣơng đối lớn nhƣ: Myanma,Thái Lan, Philippine và Việt Nam.
Việt Nam đƣợc xác định là nằm ở trung tâm phân bố của tre trúc, nên rất phong phú và đa dạng về loài. Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [14] Việt Nam có 216 loài tre nứa thuộc 25 chi và có thể đến 250 loài. Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007) [1] đã xác định tổng diện tích tre các loại, kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng, kể cả rừng thuần loài và hỗn loài, cả nƣớc có gần 1,5 triệu hecta. Trong đó, hơn 1,4 triệu hecta là rừng tự nhiên, bao gồm 800 ngàn ha là rừng thuần loài và hơn 600 ngàn hecta là rừng hỗn loài.
Rừng trồng có gần 74 ngàn hecta, chủ yếu là trồng các loài nhƣ: Luồng (D.barbatus), Mai xanh (D.latiflorus), tre Bát độ và một số loài tre lấy măng khác (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn và cs, 2013) [19]. Tre trúc dễ trồng, sinh trƣởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên đƣợc sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là ở nông thôn và miền núi. Kỹ thuật nhân giống, gây trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tre, trúc đã và đang đƣợc quan tâm nghiên cứu và phát triển.
Nhiều loài tre, trúc đƣợc nhân dân gây trồng để phát triển kinh tế, đồng thời nâng cao độ che phủ, giảm xói mòn, chống sụt lở vùng đầu nguồn, ven sông suối, cung cấp nguyên liệu cho chế biến, thúc đẩy phát triển thị trƣờng tiêu thụ trong nƣớc và xuất khẩu. c 2 Cây Mạy chả (Pseudosasa amabilis) phân bố tự nhiên trong rừng tại xã Pá Khoang và một số xã khác, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Mạy chả theo tên gọi của bà con dân tộc địa phƣơng còn có tên khác là cây Trúc thuộc chi Sặt, họ phụ Tre nứa, họ Hòa thảo, lớp Một lá mầm. Trƣớc kia cây Mạy chả đƣợc thu mua để xuất khẩu sang các nƣớc châu Âu để dùng làm cần câu và gậy trƣợt tuyết do đặc tính là thân cây thẳng, dẻo và bền.
Khi không còn đƣợc xuất khẩu sang châu Âu nữa thì ngƣời dân địa phƣơng không mấy quan tâm đến loài cây này cho đến thời gian gần đây khi Công ty USUI thu mua và xuất khẩu thân cây sang Nhật Bản với mục đích phục vụ sản xuất nông nghiệp nhƣ: làm giàn cho đỗ, dƣa leo hay làm hàng rào. Khi đƣợc thu mua ngƣời dân địa phƣơng khai thác thân Mạy chả từ rừng tự nhiên mà không theo đúng quy định về quy cách sản phẩm. Hiện nay ở Điện Biên kinh doanh cây Mạy chả vẫn theo hƣớng quảng canh, chƣa có biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý chỉ dựa vào kinh nghiệm của ngƣời dân địa phƣơng và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên năng suất không cao. Đặc biệt việc phát triển mở rộng diện tích trồng loài cây này gặp khó khăn do nhân giống bằng gốc rất hạn chế về số lƣợng, đến nay chƣa có một thử nghiệm nào về nhân giống bằng phƣơng pháp khác nhƣ chiết hoặc giâm hom, nên số lƣợng giống cung cấp ra thị trƣờng chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu mở rộng diện tích.
Nhƣ vậy, việc kinh doanh cây Mạy chả còn thiếu tìm hiểu về đặc tính của loài cây cũng nhƣ các biện pháp kỹ thuật về nhân giống và trồng. Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn hƣớng nghiên cứu “Nghiên cứu một số đăc điểm sinh học và kỹ thuật nhân giống loài cây Mạy chả (Pseudosasa amabilis) tại huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên” đƣợc đặt ra là rất cần thiết. c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu trên thế giới 1.
Nghiên cứu về sinh thái tre trúc Công trình đầu tiên nghiên cứu tre trúc trên thế giới là của tác giả Munro xuất bản vào năm 1868 với tựa đề "Nghiên cứu về Bambusaceae", tác giả đã khái quát một cách tổng quát về họ phụ tre, trúc (Dẫn theo Nguyễn Ngọc Bình và cs, 2007) [1]. Sau đó là ấn phẩm của tác giả Gamble (1896) [42] viết về "Các loài tre trúc ở Ấn Độ", đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm phân bố, một số đặc điểm hình thái và sinh thái của 151 loài tre trúc có ở Ấn Độ, Pakistan, Myanma, Malaysia và Indonesia. Theo Koichiro Ueda (1976) [33] trên thế giới, ngƣời ta gặp đƣợc 1250 loài tre trúc thuộc 47 giống. Các loài này đều thấy phân bố rộng và có khối lƣợng cây rất nhiều, song phần lớn đều mọc tự nhiên ở các nƣớc trong vùng Đông Nam châu Á, bao gồm Trung Quốc (miền Nam Trung Quốc, đảo Đài Loan), Philippin,Thái Lan, Miến Điện, Ấn độ, Pakixtan, Indonexia và các nƣớc thuộc châu Mỹ vv.
Không gặp đƣợc loài nào vốn có nguồn gốc tại châu Âu và có rất ít là loài cây bản địa ở châu Úc. Theo Rao and Rao (1995) [43], nếu xét về diện tích thì châu Á là nơi có diện tích rừng tre trúc lớn nhất, sau đó đến miền Đông châu Phi, riêng châu Âu hầu nhƣ không có rừng tre trúc. Ở châu Phi, tuy có diện tích rừng tre trúc phân bố rộng, nhƣng số lƣợng loài lại ít (40 loài). Châu Úc có diện tích rừng tre trúc nhỏ và số loài tre trúc phân bố cũng rất ít (4 loài) Khi nghiên cứu những đặc trƣng sinh thái của loài Trúc núi đá (Depanostachyum luodianense), Liu Jiming (2010) [40] cho rằng: loài cây này phân bố ở 5 kiểu tiểu sinh cảnh khác nhau nhƣ: mặt đất - mặt đá - rãnh c 4 đá - kẽ đá - hốc đá, ở mỗi kiểu này đều có những đặc trƣng sinh thái khác nhau.
Qua đó thể hiện sự thích ứng của loài với các nhân tố môi trƣờng xung quanh trong phạm vi hẹp (tiểu sinh cảnh) hay phạm vi rộng hơn ở mức độ quần thể, quần xã. Trong môi trƣờng "cô lập” kết cấu cành, lá, lóng, đốt của loài có sự thay đổi khi ở các vị trí khác nhau tƣơng ứng với các tiểu sinh cảnh khác nhau; ngoài ra kết cấu này còn thay đổi theo tuổi, thực tế là góc phân cành và số cành thứ cấp. Đồng thời nghiên cứu của tác giả đƣa đến nhận định: quần xã Trúc núi đá có chức năng giữ nƣớc tốt hơn quần xã cây bụi và cỏ; có tác dụng cải thiện rõ rệt tới lý hóa tính của đất. Sự chặt phá tùy tiện của con ngƣời là nguyên nhân gây nguy cơ thoái hóa rừng Trúc núi đá (Dẫn theo Trần Ngọc Hải, 2012) [7].
Dựa vào một số nhân tố nhƣ nhiệt độ, lƣợng mƣa, độ ẩm. Zhou Fangchun (2000) [34] đã xác định đƣợc vùng phân bố sinh thái của loài Trúc (Phyllosstachys pubescan) ở Trung Quốc, cũng nhƣ qua điều tra thực địa, đã xác định đƣợc loại đất và đặc tính của đất nơi có loài phân bố. Căn cứ vào độ sâu phân bố của thân ngầm ở các lớp đất khác nhau, đã lập đƣợc bảng phân bố của thân ngầm loài cây này ở 3 vị trí chân, sƣờn, đỉnh. Kết quả cho thấy ở chân đồi độ sâu phân bố của thân ngầm sâu hơn (80cm), còn ở đỉnh đồi chỉ phát hiện thấy thân ngâm ở độ sâu 40cm trở lên.
Tác giả Dransfield and Widjaja (1995) [35] khi giới thiệu về tài liệu tre trúc của Đông Nam Á đã đề cập tới các thông tin về khoa học, tên địa phƣơng, phân bố địa lí của loài, giá trị sử dụng, đặc điểm nhận biết qua hình thái và thông tin vắn tắt về sinh thái một số loài, nhƣ đối với loài Bƣơng (D. giganteus) có mọc tự nhiên ở cao nguyên nhiệt đới ẩm trên 1. Tuy nhiên, có thể mọc ở rừng thấp nhiệt đới ẩm, có tầng đất dày nhiều mùn.Tại Thái Lan đã phát hiện thấy loài này mọc ở rừng Tếch. Các thông tin này rất vắn tắt và chƣa cụ thể.
c 5 "Nghiên cứu sinh lý tre trúc" của Koichiro Ueda (1976) [33] đã trải qua 10 năm tập trung nghiên cứu đã tiến hành thống kê: Hàng năm có 60 - 80% số măng bị thui ở rừng Phyllostachys edulis và 30 - 50% số măng bị thui ở rừng Phyllostachys reticulata. Bên cạnh đó tác giả còn đề cập đến vấn đề khai thác và tận dụng măng cũng nhƣ các biện pháp bón phân để tăng số lƣợng, kích thƣớc của măng, thân khí sinh. Tác giả Xiao Jianghua (1996) [41] “Cultivation & Utilization on Bamboos” đã tìm ra đƣợc các yếu tố nhƣ: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dƣỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh là những nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trƣởng và phát triển của thân khí sinh. Do đó thấy đƣợc đây là những nhân tố mũi nhọn cần đƣợc quan tâm trong quá trình thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh.
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào xác định được đặc điểm sinh thái đối với một số loài tre trúc. Đó là cơ sở để xác định vùng phân bố đối với loài tre trúc. Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống Giống là một trong những khâu quan trọng có ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất và chất lƣợng của rừng trồng, đặc biệt là khi trồng rừng trên các đối tƣợng đất đã bị thoái hóa và nhân giống tre trúc đƣợc nhiều tác giả quan tâm và đề cập đến nhƣ: Đối với các loài tre trúc thì phƣơng pháp nhân giống chủ yếu bằng phƣơng pháp sinh dƣỡng có thể sử dụng chồi, gốc, đốt và cành để tạo cây con. Một kết quả nghiên cứu của Bernard (2007) [37] đã cho thấy có thể nhân giống tre trúc bằng thân và gốc: Dùng đoạn ngắn trên thân của tre trúc, đoạn trên thân cây có độ tuổi từ 2 - 3 năm để tạo ra cây con.
Với yêu cầu kỹ thuật là cắt một đoạn có 2 đến 3 mắt, đục lỗ cách các mắt từ 5 - 7 cm và vùi sâu 6 - 10 cm theo hƣớng nằm ngang vào đất trộn cát. Kích thích c 6 ra rễ có thể dùng axít 1-Naphthalene acetic (NAA) đổ vào lỗ đã đục. Dùng gốc để làm vật liệu nhân giống với yêu cầu chọn cây có độ tuổi 1 - 2 năm, sau đó đào sâu 30 - 60 cm và cắt toàn bộ gốc mang đi trồng ngay.