Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây dừa (Cocos nucifera L.) là cây công nghiệp lấy dầu quan trọng tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đồng thời là cây trồng chủ lực thích ứng với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tại tỉnh Bến Tre (Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Bến Tre, 2020). Tuy nhiên, ngành sản xuất dừa đang đối mặt với sự xâm nhiễm nghiêm trọng của sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker) – một loài dịch hại ngoại lai có nguồn gốc từ Sri Lanka và Ấn Độ (Howard và cộng sự, 2001). Tại các đồn điền dừa Ấn Độ, loài này làm sụt giảm từ 42,8% đến 62,9% năng suất hạt (Rao và cộng sự, 2018), trong khi tại Sri Lanka mức thiệt hại có thể lên đến 80% (Perera, 1987). Tại Bến Tre, số liệu thống kê của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre ghi nhận trong 6 tháng đầu năm 2021 có 547 ha dừa bị gây hại, trong đó 42% diện tích bị hại nặng và khó phục hồi.

Biện pháp phòng trừ hóa học bộc lộ nhiều hạn chế do thân cây dừa cao và tập tính sâu non ẩn nấp sâu bên trong đường hầm tơ ở mặt dưới tàu lá, khiến thuốc bảo vệ thực vật khó tiếp cận mục tiêu (Lê Khắc Hoàng và cộng sự, 2022). Do đó, ứng dụng biện pháp sinh học là định hướng bền vững. Loài ong ký sinh nhộng Trichospilus pupivorus Ferrière (Hymenoptera: Eulophidae) đã được chứng minh có khả năng kiểm soát hiệu quả sâu đầu đen khi phóng thích hàng loạt (Silva và cộng sự, 2016; Rao và cộng sự, 2018). Mặc dù vậy, việc nhân sinh khối ong ký sinh trên ký chủ tự nhiên gặp trở ngại lớn do sâu đầu đen rất khó nuôi nhân tạo trong điều kiện phòng thí nghiệm và hệ số vũ hóa thấp, chỉ đạt 50 đến 75 cá thể/nhộng (Tavares và cộng sự, 2013).

Nhộng sâu sáp (Galleria mellonella Linnaeus) là ký chủ thay thế tiềm năng nhờ ưu điểm dễ nuôi, vòng đời ngắn, chi phí thấp và không làm suy giảm phẩm chất thiên địch (Knipling, 1979; Rao và cộng sự, 2018). Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu thực nghiệm chứng minh hiệu quả và xác lập các thông số sinh học của việc nhân nuôi T. pupivorus trên nhộng sâu sáp. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Thúy Hằng (ngành Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Tuấn Đạt và KS. Nông Hồng Quân) đã được tiến hành nhằm giải quyết khoảng trống kỹ thuật này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Khảo sát và xác định độ tuổi nhộng sâu sáp thích hợp nhất làm ký chủ cho ong T. pupivorus ký sinh.
  2. Theo dõi thời gian phát triển các pha phát dục, kích thước hình thái và vòng đời của ong T. pupivorus trên nhộng sâu sáp.
  3. Đánh giá sức đẻ trứng, nhịp điệu sinh sản và tuổi thọ thành trùng của ong T. pupivorus.
  4. Đánh giá khả năng nhân nuôi và xác định tỷ lệ giới tính (đực/cái) của ong T. pupivorus trên ký chủ nhộng sâu sáp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Ong ký sinh nhộng Trichospilus pupivorus (thu thập tại vườn dừa xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; tọa độ GPS: 10.352738E, nhân nuôi qua 3 thế hệ F1, F2, F3) và ký chủ nhộng sâu sáp Galleria mellonella 3 ngày tuổi.
  • Không gian nghiên cứu: Phòng thí nghiệm Côn trùng – Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05/2022 đến tháng 10/2022. Điều kiện môi trường thí nghiệm duy trì ổn định ở nhiệt độ 28 ± 2°C, độ ẩm 70 ± 5% và thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết côn trùng học ứng dụng và kiểm soát sinh học bảo vệ thực vật, cụ thể là tương tác ký sinh - ký chủ giữa ong nội ký sinh hợp đàn Trichospilus pupivorus (họ Eulophidae, bộ Hymenoptera) và ký chủ trung gian Galleria mellonella (họ Pyralidae, bộ Lepidoptera), nhằm quản lý đối tượng đích là sâu đầu đen Opisina arenosella (họ Xyloryctidae, bộ Lepidoptera). Quá trình ký sinh của ong được phân tích qua hệ thống thụ quan cảm giác (sensilla) trên râu đầu định hướng vị trí ký chủ thông qua chất bay hơi từ kén/nhộng ký chủ (Keil, 1997; Silva và cộng sự, 2016; Nor Ahya và cộng sự, 2018).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

  • Phương pháp nhân nuôi nguồn vật liệu: Sâu sáp được nuôi bằng thức ăn nhân tạo do Bộ môn Bảo vệ Thực vật phối trộn, gồm: 212 g hỗn hợp bột ngũ cốc (bắp, tấm, khoai mì), phụ phẩm ngũ cốc (cám gạo, cám mì), đạm động vật, đạm thực vật, khoáng hữu cơ, dẫn xuất axit formic, premix vi khoáng - vitamin, axit amin; bổ sung 25 g cám bắp, 125 g mật ong Nông Lâm, 13 g sáp ong và 125 g glycerin. Ấu trùng nuôi 35 - 40 ngày đến đẫy sức, nhộng hóa được 3 ngày thì bóc kén phục vụ thí nghiệm. Ong T. pupivorus thu thập từ ổ nhộng sâu đầu đen tự nhiên được nuôi nhân trên nhộng sâu đầu đen F1 có bổ sung mật ong 30%, chọn lọc cá thể F3 khỏe mạnh để thực hiện các thử nghiệm.

  • Bố trí thí nghiệm chọn tuổi ký chủ: Bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) một yếu tố, 3 lần lặp lại. Đặt 4 nhóm tuổi nhộng sâu sáp (1, 3, 5 và 7 ngày tuổi, mỗi nhóm 2 cá thể) vào hộp nhựa (đường kính 7 cm x cao 3 cm) cùng 5 cặp ong T. pupivorus đã giao phối để đánh giá số ong vũ hóa và tỷ lệ nhộng bị ký sinh.

  • Theo dõi pha phát dục, kích thước và vòng đời: Cho 50 cặp ong T. pupivorus 1 ngày tuổi tiếp xúc 150 nhộng sâu sáp 3 ngày tuổi trong 24 giờ. Định kỳ mỗi ngày mổ ngẫu nhiên 5 nhộng bị ký sinh để quan sát, ghi nhận hình thái và thời gian phát dục của 50 cá thể cho mỗi pha (trứng, ấu trùng các ngày tuổi, nhộng, thành trùng). Kích thước cơ thể, sải cánh, đốt chày chân sau được đo đạc dưới kính lúp soi nổi KTECK KTST-978PRO (Đài Loan, độ phóng đại 17x - 110x).

  • Xác định sức đẻ trứng và tuổi thọ: Thực hiện với 10 lần lặp lại (mỗi lần 1 cặp ong T. pupivorus 1 ngày tuổi tiếp xúc 3 nhộng sâu sáp trong hộp nhựa). Cứ sau 24 giờ thay nhộng mới cho đến khi ong chết; nhộng bị ký sinh được mổ sau 3 ngày để đếm số ấu trùng nở. Thí nghiệm tiến hành trong điều kiện không cho ong ăn thêm mật ong.

  • Khảo sát khả năng nhân nuôi và tỷ lệ giới tính: Thực hiện 10 lần lặp lại, mỗi lần cho 3 cặp ong tiếp xúc 1 nhộng sâu sáp 3 ngày tuổi đến khi ong chết, có cung cấp mật ong 30%. Thu thập toàn bộ ong vũ hóa, phân loại giới tính đực/cái dựa trên hình thái bụng và râu đầu để xác định tỷ lệ giới tính (theo dõi trên tổng số 5.426 cá thể vũ hóa).

  • Xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được tính toán giá trị trung bình (TB), độ lệch chuẩn (SD) và khoảng biến động bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về ba nhóm sinh vật liên quan:

  • Sâu sáp (Galleria mellonella L.): Nguồn gốc phân bố toàn cầu qua 27 quốc gia châu Phi, nhiều nước châu Á, Âu, Mỹ; ứng dụng làm sinh vật chỉ thị trong độc học, nghiên cứu miễn dịch thay thế động vật có vú (Cotter và cộng sự, 2019) và đặc biệt là ký chủ thay thế nhân nuôi các loài ong ký sinh họ Braconidae, Bethylidae, Eulophidae. Trình bày chi tiết đặc điểm hình thái từng pha phát triển và sinh học biến thái hoàn toàn (ấu trùng trải qua 8-9 lần lột xác ở 33,8°C).
  • Ong ký sinh Trichospilus pupivorus: Phân loại thuộc bộ Hymenoptera, họ Eulophidae; phát hiện lần đầu tại vùng ven biển Malabar, Ấn Độ năm 1925 (Ferrière, 1930). Tổng hợp dữ liệu hình thái, tập tính lưỡng hình giới tính, sinh học phát triển nội ký sinh và 6 bước hành vi ký sinh (bay và bò; bò lên ký chủ; dò tìm bằng râu; chọc cơ quan đẻ trứng; uốn cong bụng đẻ trứng; làm sạch cơ thể) kéo dài trung bình 98,12 phút (Nor Ahya và cộng sự, 2018). Phân tích ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ (thích hợp 25 - 30°C) và ẩm độ tới sức sống của ong.
  • Sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker): Tổng quan về phạm vi phân bố tại 16 quốc gia châu Á, mức độ thiệt hại trên dừa và các tác nhân sinh học kiểm soát tự nhiên gồm kiến (Monomorium, Oecophylla), ong ký sinh sâu non (Goniozus nephantidis, Bracon hebetor) và ong ký sinh nhộng (T. pupivorus).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể quy cách vật tư, thiết bị thực nghiệm (hộp nhựa có màng lưới thoáng khí, lồng mica, kính lúp soi nổi KTECK KTST-978PRO), địa điểm thu thập mẫu ong bản địa tại Bến Tre và công thức thức ăn chế biến sâu sáp. Chi tiết hóa quy trình 4 nội dung thí nghiệm:

  • Thí nghiệm khảo sát 4 độ tuổi nhộng sâu sáp (1, 3, 5, 7 ngày tuổi).
  • Thí nghiệm đo đạc chỉ tiêu vi học các pha phát dục (trứng, ấu trùng từ 1 đến 7 ngày tuổi, nhộng, thành trùng đực/cái, sải cánh, đốt chày).
  • Thí nghiệm xác định năng lực sinh sản (nhịp điệu đẻ trứng, thời gian tiền/hậu đẻ trứng) và tuổi thọ thành trùng trong điều kiện không ăn thêm.
  • Thí nghiệm nhân nuôi hàng loạt có bổ sung mật ong 30% để kiểm tra hệ số nhân và tỷ lệ giới tính.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương này phân tích các dữ liệu định lượng thu được từ thực nghiệm:

  • Độ tuổi nhộng ký chủ thích hợp: Nhộng 3 ngày tuổi cho số ong vũ hóa cao nhất và đồng đều nhất qua các lần lặp lại (đạt 233,3 ± 73,1 con/nhộng, 100% nhộng bị ký sinh), vượt trội so với nhộng 1 ngày tuổi (154,7 ± 82,8 con/nhộng), 5 ngày tuổi (212,7 ± 117,5 con/nhộng) và 7 ngày tuổi (195,2 ± 14,6 con/nhộng).
  • Các pha phát dục và hình thái: Trứng có thời gian phát dục 1,30 ± 0,46 ngày. Pha ấu trùng kéo dài 7,74 ± 0,49 ngày; cơ thể ấu trùng chuyển từ màu trắng trong suốt (ngày 1, dài 0,21 mm) sang phân đốt màu vàng nhạt (ngày 2 - 3) và đạt kích thước tối đa ở ngày 7 (dài 1,35 ± 0,23 mm, rộng 0,43 ± 0,09 mm). Pha nhộng kéo dài 6,72 ± 0,57 ngày, chuyển từ nhộng trần màu trắng đục sang vàng nâu, xuất hiện mắt kép đỏ sẫm. Thời gian tiền đẻ trứng kéo dài 2,16 ± 0,42 ngày. Vòng đời trung bình của ong là 17,92 ± 0,78 ngày (biến động 16 - 19 ngày).
  • Kích thước và lưỡng hình giới tính: Thành trùng cái có chiều dài thân (1,17 ± 0,12 mm), sải cánh (1,77 ± 0,18 mm) và đốt chày chân sau (0,23 ± 0,03 mm) lớn hơn đáng kể so với thành trùng đực (thân dài 0,92 ± 0,09 mm, sải cánh 1,39 ± 0,15 mm, đốt chày 0,20 ± 0,03 mm). Thành trùng cái có màu vàng nâu, đỉnh râu nhọn; thành trùng đực toàn thân màu vàng, cuối râu phình bầu và có đốm trắng ở mặt bụng.
  • Sức đẻ trứng và tuổi thọ: Thành trùng cái đẻ trung bình 118,1 ± 33,7 trứng trong vòng đời, thời gian đẻ trứng bình quân 2,7 ± 0,9 ngày. Nhịp điệu đẻ trứng tập trung mãnh liệt vào ngày thứ nhất sau khi bắt đầu đẻ (trung bình 91,7 trứng/cái), giảm mạnh ở ngày thứ 2 (21,6 trứng/cái) và ngừng đẻ hoàn toàn từ ngày thứ 6. Khi không cho ăn thêm mật ong, thành trùng cái sống được 5,8 ± 0,63 ngày, trong khi thành trùng đực sống 2,3 ± 0,67 ngày.
  • Khả năng nhân sinh khối và tỷ lệ giới tính: Khi nhân nuôi với tỷ lệ 3 cặp ong/nhộng sâu sáp có bổ sung mật ong 30%, trung bình một nhộng cho vũ hóa 494,3 ± 125,09 ong cái và 48,3 ± 12,18 ong đực. Tỷ lệ đực/cái bình quân đạt 10,0 ± 2,00% (cá thể cái chiếm ưu thế tuyệt đối ~90%). Thành trùng đực hoàn thành giao phối với phần lớn ong cái ngay trong vỏ bọc nhộng trước khi cắn thủng 1 - 5 lỗ ở vùng cánh/ngực nhộng ký chủ để chui ra ngoài.

Kết quả và đóng góp

1. Bảng số liệu tổng hợp các chỉ tiêu sinh học và phát dục

Chỉ tiêu theo dõi Khoảng biến động Giá trị trung bình ± SD Dung lượng mẫu (n)
Thời gian phát dục các pha (ngày)
- Pha trứng 1 - 2 1,30 ± 0,46 50
- Pha ấu trùng 8 - 9 7,74 ± 0,49 50
- Pha nhộng 6 - 8 6,72 ± 0,57 50
- Giai đoạn tiền đẻ trứng 1 - 3 2,16 ± 0,42 50
- Vòng đời (từ trứng đến thành trùng đẻ trứng) 16 - 19 17,92 ± 0,78 50
Kích thước cơ thể (mm)
- Trứng (Dài x Rộng) (0,06 - 0,30) x (0,03 - 0,14) (0,14 ± 0,05) x (0,08 ± 0,02) 50
- Ấu trùng 7 ngày tuổi (Dài x Rộng) (0,90 - 2,09) x (0,17 - 0,67) (1,35 ± 0,23) x (0,43 ± 0,09) 50
- Nhộng (Dài x Rộng) (1,18 - 1,76) x (0,32 - 0,62) (1,45 ± 0,11) x (0,49 ± 0,05) 50
- Thành trùng cái (Dài x Rộng) (0,78 - 1,36) x (0,19 - 0,33) (1,17 ± 0,12) x (0,28 ± 0,03) 50
- Thành trùng đực (Dài x Rộng) (0,66 - 1,10) x (0,15 - 0,27) (0,92 ± 0,09) x (0,23 ± 0,02) 50
- Sải cánh: Thành trùng cái 1,20 - 2,03 1,77 ± 0,18 50
- Sải cánh: Thành trùng đực 1,06 - 1,65 1,39 ± 0,15 50
- Đốt chày chân sau: Con cái 0,16 - 0,30 0,23 ± 0,03 50
- Đốt chày chân sau: Con đực 0,14 - 0,25 0,20 ± 0,03 50
Khả năng sinh sản và tuổi thọ (không mật ong)
- Sức đẻ trứng trong 1 ngày (trứng/cái/ngày) 23,3 - 103,0 49,5 ± 23,6 10
- Thời gian đẻ trứng (ngày) 1 - 4 2,7 ± 0,9 10
- Tổng số trứng đẻ (trứng/cái) 70 - 170 118,1 ± 33,7 10
- Thời gian hậu đẻ trứng (ngày) 2 - 6 3,4 ± 1,4 10
- Tuổi thọ thành trùng đực (ngày) 2 - 3 2,3 ± 0,67 10
- Tuổi thọ thành trùng cái (ngày) 5 - 7 5,8 ± 0,63 10
Khả năng nhân nuôi (bổ sung mật ong 30%)
- Số thành trùng cái vũ hóa (con/nhộng) 264 - 675 494,3 ± 125,09 5.426 cá thể
- Số thành trùng đực vũ hóa (con/nhộng) 30 - 69 48,3 ± 12,18 (tổng theo dõi)
- Tỷ lệ thành trùng đực/cái (%) 6,0 - 14,0 10,0 ± 2,00

2. Đóng góp khoa học và giải pháp kỹ thuật đề xuất

  • Đóng góp mới so với y văn: Các nghiên cứu quốc tế trước đây trên ký chủ tự nhiên sâu đầu đen chỉ thu được 50 đến 75 ong vũ hóa/nhộng (Tavares và cộng sự, 2013). Nghiên cứu này chứng minh nhộng sâu sáp cho năng suất vũ hóa đạt từ 233,3 cá thể/nhộng (thử nghiệm đơn lẻ) đến 494,3 cá thể ong cái/nhộng (nhân nuôi bổ sung mật ong 30%), tức tăng gấp 6 đến 9 lần sản lượng ong cái hữu hiệu so với ký chủ sâu đầu đen.
  • Khuyến nghị kỹ thuật cho nhân giống:
    1. Sử dụng nhộng sâu sáp ở tuổi 3 ngày làm ký chủ tiêu chuẩn để đảm bảo tỷ lệ ký sinh tuyệt đối (100%) và mật độ vũ hóa đồng đều.
    2. Bố trí thời gian tiếp xúc ký sinh ngay trong 24 đến 48 giờ đầu sau khi ong vũ hóa, do sức đẻ trứng tập trung cao nhất vào ngày đầu tiên (chiếm trên 77% tổng số trứng).
    3. Bổ sung dung dịch mật ong 30% trong quá trình nhân nuôi nhằm duy trì thể trạng và tối ưu hóa số lượng thành trùng vũ hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Nghiên cứu mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm trong điều kiện môi trường vi khí hậu tối ưu cố định (28 ± 2°C, độ ẩm 70 ± 5%, chiếu sáng 12 giờ). Đề tài chưa kiểm tra khả năng sống sót và khả năng ký sinh của ong ở các điều kiện nhiệt độ - ẩm độ cực đoan (khô nóng hoặc mưa ẩm kéo dài) như bối cảnh tự nhiên ngoài vườn dừa. Bên cạnh đó, các đánh giá về sức đẻ trứng và tuổi thọ mới khảo sát trên mẫu n = 10 cá thể không bổ sung thức ăn, chưa khảo sát sâu tương quan dinh dưỡng các loại mật bổ sung khác nhau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân nuôi số lượng lớn (mass rearing) ong T. pupivorus trên nhộng sâu sáp ở quy mô bán công nghiệp, chuẩn hóa tỷ lệ ký sinh (ong : nhộng) tối ưu.
    • Nghiên cứu các phương pháp bảo quản lạnh nhộng sâu sáp bị ký sinh để chủ động điều tiết thời điểm vũ hóa khi phục vụ thả thiên địch ngoài đồng.
    • Khảo nghiệm phóng thích thực địa ong T. pupivorus (nhân từ ký chủ sâu sáp) trên các vườn dừa bị nhiễm sâu đầu đen tại Bến Tre nhằm đánh giá khả năng định vị ký chủ tự nhiên, tỷ lệ ký sinh ngoài đồng và hiệu quả khống chế mật số dịch hại.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo học thuật trực tiếp đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Bảo vệ Thực vật, Côn trùng học, Nông học: Cung cấp tài liệu mô tả chi tiết phương pháp mổ giải phẫu nhộng ký chủ theo từng ngày tuổi, kỹ thuật đo đạc vi trắc côn trùng nhỏ dưới kính lúp soi nổi, và quy trình nuôi sâu sáp trên nền thức ăn nhân tạo.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các Trung tâm, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật: Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác về các mốc thời gian phát dục (vòng đời 17,92 ngày, tuổi nhộng 3 ngày) để thiết kế lịch biểu sản xuất thiên địch phục vụ các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) sâu đầu đen hại dừa tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nhộng sâu sáp 3 ngày tuổi lại là độ tuổi thích hợp nhất để ong Trichospilus pupivorus ký sinh?
Trả lời: Theo số liệu thực nghiệm ở Bảng 3.1, nhộng 3 ngày tuổi cho số lượng ong vũ hóa cao nhất và ổn định nhất, đạt trung bình 233,3 ± 73,1 con/nhộng (biến động 166 - 311 con), với 100% số nhộng bị ký sinh (2,0 ± 0 nhộng). So với nhộng 1 ngày tuổi (154,7 con/nhộng), nhộng 5 ngày tuổi (212,7 con/nhộng) và nhộng 7 ngày tuổi (195,2 con/nhộng), nhộng 3 ngày tuổi có hàm lượng dinh dưỡng tối ưu và lớp vỏ kitin chưa quá cứng, giúp ong cái dễ dàng đưa vòi đẻ trứng vào sâu bên trong.

2. Vòng đời của ong T. pupivorus trên ký chủ nhộng sâu sáp kéo dài bao nhiêu ngày và trải qua các pha nào?
Trả lời: Ở điều kiện nhiệt độ 28 ± 2°C và độ ẩm 70 ± 5%, vòng đời của ong T. pupivorus biến động từ 16 đến 19 ngày, trung bình là 17,92 ± 0,78 ngày. Thời gian phát triển cụ thể của các pha gồm: pha trứng kéo dài 1,30 ± 0,46 ngày; pha ấu trùng kéo dài 7,74 ± 0,49 ngày; pha nhộng kéo dài 6,72 ± 0,57 ngày; và giai đoạn tiền đẻ trứng của thành trùng kéo dài 2,16 ± 0,42 ngày.

3. Nhịp điệu đẻ trứng của ong cái T. pupivorus diễn ra như thế nào sau khi vũ hóa?
Trả lời: Thành trùng cái có thời gian đẻ trứng trung bình là 2,7 ± 0,9 ngày và tập trung cao nhất vào 4 ngày đầu đời. Đặc biệt, nhịp điệu sinh sản đạt đỉnh tuyệt đối vào ngày thứ nhất sau khi bắt đầu đẻ với trung bình 91,7 trứng/cái (cá thể cao nhất đạt 157 trứng). Đến ngày thứ 2, lượng trứng đẻ giảm mạnh xuống còn 21,6 trứng/cái; từ ngày thứ 3 chỉ đẻ rải rác 4 - 7 trứng hoặc ngừng đẻ, và từ ngày thứ 6 trở đi ong cái hoàn toàn không đẻ trứng cho đến khi chết.

4. Tỷ lệ giới tính của ong T. pupivorus khi nhân nuôi trên nhộng sâu sáp là bao nhiêu và có đặc điểm giao phối ra sao?
Trả lời: Tỷ lệ thành trùng đực/cái trong cùng một nhộng sâu sáp biến động từ 6,0% đến 14,0%, trung bình đạt 10,0 ± 2,00%. Số cá thể cái chiếm ưu thế vượt trội (trung bình 494,3 cá thể cái so với 48,3 cá thể đực trên mỗi nhộng). Do tỷ lệ con đực ít và ong cái chiếm trên 90%, hành vi giao phối chủ yếu được thực hiện bởi các con đực với hàng loạt con cái ngay bên trong vỏ nhộng ký chủ trước khi ong đục từ 1 đến 5 lỗ trên vỏ nhộng để vũ hóa ra ngoài.

5. Điểm khác biệt về kích thước hình thái để phân biệt ong T. pupivorus thành trùng đực và cái là gì?
Trả lời: Thành trùng cái có kích thước lớn hơn đáng kể so với con đực: chiều dài thân con cái đạt 1,17 ± 0,12 mm (con đực 0,92 ± 0,09 mm), sải cánh con cái đạt 1,77 ± 0,18 mm (con đực 1,39 ± 0,15 mm), đốt chày chân sau con cái đạt 0,23 ± 0,03 mm (con đực 0,20 ± 0,03 mm). Về màu sắc và cấu tạo, con cái có cơ thể màu vàng nâu, phần sau bụng tròn hơi phẳng, đuôi râu nhọn; con đực toàn thân màu vàng sáng, đuôi râu phình bầu, phần bụng thon nhọn về sau và có một mảng màu trắng đặc trưng ở mặt trước của bụng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Thúy Hằng đã xác lập đầy đủ và chi tiết các dẫn liệu sinh học của loài ong ký sinh nhộng Trichospilus pupivorus khi nhân nuôi trên ký chủ thay thế là nhộng sâu sáp Galleria mellonella trong điều kiện phòng thí nghiệm (28 ± 2°C, ẩm độ 70 ± 5%). Kết quả khẳng định nhộng sâu sáp 3 ngày tuổi là ký chủ tối ưu, cho phép rút ngắn chu kỳ nhân sinh khối với vòng đời ong đạt 17,92 ngày và hệ số nhân vượt trội (trung bình 494,3 ong cái/nhộng, tỷ lệ đực/cái 1:10). Đây là cơ sở khoa học và dữ liệu thực nghiệm quan trọng hỗ trợ việc xây dựng quy trình sản xuất hàng loạt thiên địch nhằm khống chế loài sâu đầu đen hại dừa tại tỉnh Bến Tre và các tỉnh phía Nam.