Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên rừng tự nhiên tại Việt Nam trải qua quá trình suy giảm nghiêm trọng qua nhiều thập kỷ. Theo số liệu của P. Maurand công bố trong công trình "Lâm nghiệp Đông Dương", năm 1943 diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam ước đạt 14,3 triệu ha với độ che phủ 43,7%. Tuy nhiên, giai đoạn 1976 - 1990 ghi nhận tốc độ suy thoái mạnh mẽ khi diện tích rừng tự nhiên mất đi 2,7 triệu ha (bình quân giảm gần 190.000 ha/năm, tương đương 1,7%/năm), xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001). Giai đoạn 2010 - 2012, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc tăng lên 39,5% (2010) và 40,2% (2011), song diện tích gia tăng chủ yếu đến từ rừng trồng, trong khi chất lượng và diện tích rừng tự nhiên giàu trữ lượng vẫn tiếp tục suy giảm, kéo theo nguy cơ xói mòn đất, lũ lụt và suy thoái nguồn gen thực vật quý hiếm.

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn) được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn với quy mô diện tích 1.788 ha, rừng tự nhiên chiếm trên 92% diện tích và chủ yếu phát triển trên núi đá vôi. Khu bảo tồn đóng vai trò hành lang sinh thái kết nối Vườn quốc gia Ba Bể với Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (Tuyên Quang). Nơi đây lưu giữ nhiều nguồn gen thực vật đặc hữu, quý hiếm như Nghiến, Trai, Đinh, Thông pà cò, các loài Lan hài và Chò đãi (Annamocarya sinensis (Dode) Leroy.). Tuy nhiên, áp lực sinh kế từ cộng đồng dân cư vùng đệm và vùng lõi đã gây ra các tác động tiêu cực đến cấu trúc quần xã thực vật. Nhằm cung cấp dẫn liệu thực tế phục vụ quản lý và bảo vệ nguồn gen lâm nghiệp đặc hữu, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lò Văn Tuyền (2014) đi sâu nghiên cứu loài Chò đãi tại khu vực này.

Mục đích nghiên cứu: Điều tra đặc điểm sinh thái và sự phân bố của loài Chò đãi nhằm tạo lập cơ sở khoa học đề xuất các biện pháp bảo vệ và bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm còn sót lại trong Khu bảo tồn.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Xác định tình hình phân bố tự nhiên của loài Chò đãi tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
  2. Xác định một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Chò đãi, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen của loài.
  3. Dựa trên những kết quả nghiên cứu thực tế, đề xuất các biện pháp bảo tồn phù hợp cho loài Chò đãi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Một số đặc điểm sinh học, hình thái, cấu trúc sinh thái tầng cây cao, đặc tính tái sinh tự nhiên và tình trạng bảo tồn của loài Chò đãi (Annamocarya sinensis (Dode) Leroy.).
  • Phạm vi không gian: Rừng tự nhiên thuộc địa bàn xã Bản Thi và xã Xuân Lạc, nằm trong ranh giới Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (tọa độ địa lý từ 22°17' đến 22°19' vĩ độ Bắc và từ 105°28' đến 105°33' kinh độ Đông).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa, thu thập số liệu ngoại nghiệp và tổng hợp số liệu nội nghiệp được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Khóa luận vận dụng hệ thống phân loại thực vật học hiện đại kết hợp với các tiêu chí đánh giá tình trạng nguy cấp của các tổ chức quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam:

  • Vị trí phân loại học: Loài Chò đãi thuộc ngành Hạt kín (Magnoliophyta), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), bộ Óc chó (Juglandales), họ Hồ đào (Juglandaceae), chi Carya (hoặc Annamocarya), tên khoa học Annamocarya sinensis (Dode) Leroy. (đồng danh Carya sinensis Dode).
  • Tình trạng bảo tồn: Loài được xếp hạng Nguy cấp (EN) trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và nhóm IIA theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Trên thế giới, loài được phân hạng bảo tồn cấp quốc gia hạng II tại Trung Quốc với cấp độ Nguy cấp B1 + 2CDE.
  • Cơ sở sinh thái học rừng: Ứng dụng lý thuyết cấu trúc lâm phần và diễn thế rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1987) và Lê Mộng Chân (2000), chú trọng tương quan giữa tổ thành cây gỗ tầng cao, độ tàn che của tán rừng và tổ thành tái sinh tự nhiên dưới tán.

Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp

  1. Phương pháp phỏng vấn cộng đồng (RRA): Sử dụng công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia, lập phiếu phỏng vấn bán cấu trúc đối với 30 đối tượng gồm người dân địa phương thường xuyên khai thác lâm sản, cán bộ tuần rừng, kiểm lâm viên địa bàn và người cao tuổi am hiểu thực vật tại hai xã Bản Thi và Xuân Lạc để ghi nhận nhận thức, kinh nghiệm gây trồng và phương thức khai thác, sử dụng loài Chò đãi.
  2. Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập các tuyến khảo sát thực địa cắt từ chân núi lên đỉnh núi đi qua các dạng địa hình (chân, sườn, đỉnh núi) tại ba khu vực trọng điểm: Nặm Thung, Lũng Lỳ và Nặm Phiêng. Ghi nhận tần số bắt gặp loài Chò đãi, tọa độ xuất hiện và loài cây đi kèm.
  3. Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (ÔTC):
    • Thiết lập 16 ÔTC điển hình diện tích 2.000 m² (kích thước 40m x 50m) ở các trạng thái rừng có tầng cây cao (đường kính ngang ngực $D_{1,3} \ge 6$ cm). Ở khu vực địa hình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn, lập các ô nhỏ 100 - 200 m² thay thế, đảm bảo nguyên tắc cứ chênh cao 100m lập 1 ÔTC.
    • Đo đếm các chỉ tiêu hình thái của tầng cây cao: đường kính thân tại vị trí 1,3 m ($D_{1,3}$ theo hai chiều trực giao), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$ bằng thước đo cao), đường kính tán ($D_t$).
    • Đo độ tàn che tán rừng tại 5 vị trí trong mỗi ÔTC (4 góc và tâm ô) để lấy trị số trung bình.
  4. Phương pháp điều tra tầng cây tái sinh: Trong mỗi ÔTC, bố trí 5 ô dạng bản (ÔDB) có diện tích 25 m² (5m x 5m), tổng diện tích điều tra tái sinh là 125 m²/ÔTC. Tiến hành đếm toàn bộ cây tái sinh, phân loại nguồn gốc (hạt hoặc chồi), đánh giá chất lượng sinh trưởng (tốt, trung bình, xấu) và đo chiều cao ($H_{vn}$), xác định cây có triển vọng khi đạt $H_{vn} > 2$ m.
  5. Điều tra phẫu diện đất và đánh giá tác động: Đào phẫu diện mô tả tầng đất, độ dày tầng đất mịn và màu sắc đất nơi có loài phân bố; khảo sát tác động con người trên tuyến theo 6 chỉ tiêu (xói mòn, súc vật ăn gặm, khai thác gỗ, chăn thả gia súc, đốt phát nương rẫy, khai thác lâm sản ngoài gỗ) theo thang điểm định lượng từ 0 đến 3.

Phương pháp nội nghiệp và xử lý số liệu

Số liệu điều tra được tổng hợp và phân tích thông qua các công thức toán học lâm nghiệp:

  • Chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - IVI): $$IVI_i (%) = \frac{A_i + D_i + RF_i}{3}$$ Trong đó: $A_i$ là độ phong phú tương đối; $D_i$ là độ ưu thế tương đối tính theo tổng tiết diện ngang thân $G_i$ ($G_i = \sum \pi \frac{D_{1,3}^2}{4}$); $RF_i$ là tần số xuất hiện tương đối của loài $i$. Các loài có $IVI \ge 5%$ được xác định là loài có vai trò sinh thái chủ đạo trong lâm phần.
  • Công thức tổ thành tầng cao và tầng tái sinh: Hệ số tổ thành loài thứ $i$ ($K_i$) tính theo công thức: $$K_i = \frac{N_i}{N} \times 10$$ Với $N_i$ là số cá thể loài $i$, $N$ là tổng số cá thể quan sát. Loài có $K_i \ge 1$ được ghi kèm hệ số; từ 0,5 đến dưới 1 ghi dấu (+); dưới 0,5 ghi dấu (-); nhóm còn lại gộp vào loài khác (Lk).
  • Mật độ cây tái sinh quy đổi ($N/ha$): $$N/ha = \frac{n}{S_{dt}} \times 10.000$$ Trong đó $n$ là tổng số cây tái sinh bắt gặp, $S_{dt}$ là tổng diện tích các ô dạng bản điều tra (m²).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả luận giải tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng suy giảm rừng tự nhiên và mất mát đa dạng sinh học tại vùng núi đá vôi miền Bắc Việt Nam. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được xác định là địa bàn có giá trị bảo tồn cao nhưng chịu sức ép lớn từ các bản làng vùng đệm. Khóa luận xác lập mục đích, mục tiêu, ý nghĩa học thuật và giá trị thực tiễn nhằm cung cấp luận cứ cho công tác bảo tồn nguồn gen loài cây gỗ Chò đãi.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Chương tổng quan hệ thống hóa các tư liệu nghiên cứu về chi Carya và loài Annamocarya sinensis:

  • Tình hình nghiên cứu quốc tế: Chi Carya gồm khoảng 17 loài, tập trung chủ yếu ở Đông Bắc châu Mỹ đến Trung Mỹ và Đông Á. Loài Chò đãi được Dode mô tả lần đầu năm 1912 dưới tên Carya sinensis từ mẫu vật tại Quý Châu (Trung Quốc). Các nghiên cứu quốc tế (Manning & Hjelmqvist 1951, Leroy 1950) từng xếp loài này vào 6 chi khác nhau trước khi thống nhất danh pháp. Tại Trung Quốc, loài mang tên "quả Óc chó có mỏ", số lượng cá thể ngoài tự nhiên suy giảm mạnh, chỉ còn khoảng 100 - 1.000 cá thể (Gu, 2003).
  • Nghiên cứu trong nước: Ở Việt Nam ghi nhận 3 loài thuộc chi này. Chò đãi phân bố rải rác tại Lai Châu, vùng giữa sông Mã - sông Đà, Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình, Thanh Hóa) và Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Nghiên cứu của Nguyễn Bá Thụ tại Cúc Phương bước đầu tìm hiểu sinh thái và gieo ươm cây con 14 năm tuổi, song dữ liệu về phân bố tại vùng núi đá vôi Đông Bắc còn rất thiếu thốn.
  • Điều kiện khu vực nghiên cứu: Điều kiện tự nhiên xã Xuân Lạc và Bản Thi có độ cao trung bình 400 - 800m, đỉnh Tam Sao cao nhất 1.159m; nhiệt độ trung bình năm 20,1°C, lượng mưa trung bình 153 mm/tháng (tập trung tháng 6, 7 lên tới 340 mm). Dân số vùng đệm có 986 hộ với 4.750 nhân khẩu (chủ yếu là dân tộc Dao và Tày), tỷ lệ hộ nghèo bình quân chiếm 45,13% (Xuân Lạc chiếm 54,14%, Bản Thi chiếm 29,3%).
Xã Số hộ Số khẩu Mật độ (người/km²) Số hộ nghèo Tỷ lệ hộ nghèo (%)
Xuân Lạc 628 3.247 38 340 54,14
Bản Thi 358 1.503 23 105 29,30
Tổng số 986 4.750 - 445 45,13

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng khảo sát là loài Chò đãi mọc tự nhiên; phạm vi thực địa tại xã Bản Thi và Xuân Lạc từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014. Nội dung tập trung vào 8 vấn đề cốt lõi: hiểu biết của người dân, đặc điểm hình thái, cấu trúc tầng cây cao, cấu trúc tái sinh, quan hệ cây bụi thảm tươi, phẫu diện đất, hiện trạng phân bố và tác động con người. Chi tiết hóa phương pháp phỏng vấn RRA, quy cách thiết lập 16 ÔTC (2.000 m²), các ÔDB tái sinh (25 m²), cùng các công thức tính $IVI$, tổ thành loài và mật độ lâm phần.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Chương kết quả phản ánh các dẫn liệu thực nghiệm thu thập từ thực địa:

Nhận thức và phương thức khai thác của cộng đồng

Khảo sát 30 phiếu phỏng vấn người dân bản địa ghi nhận tên địa phương của loài là Mạy châu khoằm. Người dân nắm rõ đặc điểm cây ưa ẩm ven suối, gỗ to, tán rộng, nhưng chưa có bất kỳ hoạt động nhân giống hay gây trồng nào. Mục đích khai thác chính tập trung vào bán gỗ thương phẩm và sử dụng gia dụng.

TT Hình thức sử dụng Số phiếu Tỷ lệ (%) Nhận xét thực tế
1 Gây trồng 0 0,00 Chưa có hộ dân nào gieo ươm, nhân giống
2 Khai thác để bán 16 53,33 Bán thân gỗ tròn cho tư thương
3 Khai thác tự sử dụng 8 26,67 Xẻ ván làm nhà, đóng đồ gia dụng, cành làm củi
4 Vừa bán vừa sử dụng 6 20,00 Kết hợp bán gỗ lớn và tận dụng gỗ thừa

Đặc điểm hình thái và cá thể cây trưởng thành

Qua rà soát trên toàn bộ hệ thống ô tiêu chuẩn, chỉ phát hiện duy nhất 2 cá thể cây Chò đãi trưởng thành tại ÔTC 15 và ÔTC 16. Cả hai cá thể đều ở trạng thái sinh trưởng tốt, thân thẳng, gốc có bạnh vè, tán xòe rộng, vỏ nhẵn màu xám nâu dày 0,4 cm, thịt vỏ màu tím có mùi tinh dầu đặc trưng.

Cây số ÔTC $D_{1,3}$ (m) $H_{vn}$ (m) Tình trạng sinh trưởng Hiện trạng thực tế tại ô
1 15 2,00 35,0 Tốt Còn nguyên vẹn, tái sinh quanh gốc rất ít
2 16 0,90 30,0 Tốt Chưa bị tác động cơ giới, vài cây tái sinh sát gốc

Đặc điểm lá: Lá kép lông chim một lần lẻ, dài 30 - 40 cm, mang 7 - 9 lá chét mép nguyên. Kích thước lá chét có sự biến thiên rõ rệt theo vị trí trên cuống lá kép và giữa các giai đoạn phát triển:

Trạng thái Vị trí lá chét Chiều dài TB (cm) Chiều rộng TB (cm) Khoảng dao động dài (cm) Khoảng dao động rộng (cm)
Cây tái sinh Dưới lá kép 6,0 2,4 1,2 - 8,0 1,5 - 3,4
Giữa lá kép 2,4 2,2 1,4 - 10,0 1,6 - 3,8
Đỉnh lá kép 2,6 2,8 1,6 - 8,5 1,0 - 3,2
Cây trưởng thành Dưới lá kép 8,0 3,0 Nhỏ nhất 3,0 Nhỏ nhất 1,2
Giữa lá kép 8,4 3,7 Lớn nhất 15,0 Lớn nhất 5,0
Đỉnh lá kép 8,8 2,5 Lớn nhất 12,0 Lớn nhất 4,0

Đặc điểm hoa và quả: Cụm hoa đực dạng bông đuôi sóc dài 13 - 15 cm rủ xuống, mọc tụ 5 - 9 cụm tại nách lá. Cụm hoa cái dạng bông đứng ở đầu cành mang 3 - 5 hoa. Quả hình cầu hoặc hình trứng, dài 6 - 8 cm, đường kính 5 - 6 cm, vỏ quả dày hóa gỗ khi chín nứt thành 6 - 9 mảnh.

Cấu trúc sinh thái tầng cây cao và độ tàn che

Tại 16 ÔTC khảo sát, thành phần loài tầng cây cao rất đa dạng với sự tham gia của Nghiến, Thích bắc bộ, Nhãn rừng, Nhọc, Trai, Sung, Cò ke, Cà lồ. Tuy nhiên, Chò đãi xuất hiện với tỷ lệ tham gia cực kỳ khiêm tốn:

  • ÔTC 15 ($N = 58$ cây): Công thức tổ thành: $$1,55Ng + 1,21Tbb + 1,03Nr + 1,03Nh + 0,69Gvn + 0,69Tr + 0,34Sn + 0,17Mt + 0,17Cđ + 2,59Lk$$ (Trong đó Chò đãi chỉ chiếm hệ số 0,17).
  • ÔTC 16 ($N = 38$ cây): Công thức tổ thành: $$1,63Ck + 1,02Cl + 1,02Va + 0,82S + 0,61Kh + 0,61Ddx + 0,61Cđ + 0,41Mt + 3,27Lk$$ (Chò đãi chiếm hệ số 0,61).
  • Độ tàn che: Giá trị đo tại ÔTC 15 đạt trung bình 0,66; ÔTC 16 đạt 0,77; trị số bình quân là 0,71. Điều này chứng minh Chò đãi là loài cây ưa ẩm, thích hợp phát triển dưới tán rừng có độ tàn che từ trung bình đến khép tán cao.

Hiện trạng tái sinh tự nhiên của loài Chò đãi

Tái sinh tự nhiên của Chò đãi gặp nhiều hạn chế. Cây con chỉ phát tán trong phạm vi hẹp quanh gốc cây mẹ (bán kính dưới 10m) do quả nặng, rụng tại chỗ, không có cơ chế phát tán xa nhờ gió hay động vật:

  • Tổng số cây tái sinh ghi nhận tại 2 ÔTC (tổng diện tích 250 m² ÔDB) chỉ đạt 7 cây, tương ứng mật độ quy đổi trung bình 560 cây/ha.
  • Tỷ lệ nguồn gốc: Tái sinh từ hạt chiếm đa số (ÔTC 15 đạt 80%, ÔTC 16 đạt 67,67%); tái sinh từ chồi chiếm tỷ lệ thấp (20% và 32,33%).
  • Phân cấp chất lượng: Cây tốt chiếm 20% - 33,33%; trung bình 33,33% - 40%; phẩm chất xấu chiếm 33,34% - 40%.
  • Tổ thành tầng tái sinh nơi có Chò đãi phân bố: $$3,33S + 2,59Ck + 1,85M + 1,11Cđ + 1,22Nh$$ (Chò đãi chỉ đóng góp 3 cá thể trong tổng số 27 cây tái sinh thuộc ô điều tra, tương đương hệ số tổ thành 1,11, đứng sau Sảng, Cò ke và Mọ). Cây triển vọng ($H_{vn} > 2$ m) của loài gần như vắng bóng.
ÔTC Diện tích ÔDB (m²) Số cây TS hạt Số cây TS chồi Tỷ lệ hạt (%) Tỷ lệ chồi (%) Chất lượng Tốt (%) Chất lượng TB (%) Chất lượng Xấu (%)
15 125 4 1 80,00 20,00 20,00 40,00 40,00
16 125 2 1 67,67 32,33 33,33 33,33 33,34

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các kết luận khoa học về hiện trạng số lượng cá thể, khả năng tái sinh và các yếu tố đe dọa sinh cảnh. Tác giả kiến nghị các biện pháp quản lý hành chính, kỹ thuật lâm sinh và giải pháp hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng vùng đệm nhằm bảo vệ nguồn gen Chò đãi.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Thực trạng phân bố cá thể trưởng thành: Trong 16 ÔTC được điều tra, Chò đãi chỉ xuất hiện tại 2 ÔTC (ÔTC 15 và ÔTC 16), mỗi ô ghi nhận đúng 1 cá thể thành thục sinh dục. Cá thể tại ÔTC 15 có $D_{1,3} = 2,0$ m và $H_{vn} = 35$ m; cá thể tại ÔTC 16 có $D_{1,3} = 0,9$ m và $H_{vn} = 30$ m. Cả hai cá thể đều phát triển tốt, đóng vai trò là cây mẹ duy nhất còn sót lại trong phạm vi khảo sát.
  2. Cấu trúc sinh thái lâm phần: Chò đãi có chỉ số tổ thành rất thấp trong tầng cây gỗ ($0,17$ tại ÔTC 15 và $0,61$ tại ÔTC 16), không thuộc nhóm loài ưu thế ($IVI \ge 5%$). Loài phân bố chủ yếu ở chân núi, ven khe suối và thung lũng có tầng đất ẩm dày, độ tàn che trung bình đạt 0,71.
  3. Đặc điểm tái sinh: Quá trình tái sinh tự nhiên diễn ra kém. Mật độ tái sinh quy đổi đạt 560 cây/ha nhưng phân bố co cụm trong bán kính 10m quanh gốc mẹ. Tỷ lệ nảy mầm từ hạt chiếm 67,67% - 80%, phẩm chất cây tái sinh chủ yếu ở mức trung bình và xấu, tỷ lệ cây có triển vọng ($H_{vn} > 2$ m) cực kỳ thấp, đối mặt nguy cơ đào thải cao dưới áp lực cạnh tranh của cây bụi, thảm tươi và dây leo.
  4. Sức ép từ con người: 100% người dân chưa từng gieo ươm loài Chò đãi; 53,33% đối tượng phỏng vấn thừa nhận khai thác gỗ để bán, 26,67% khai thác sử dụng tại chỗ. Tình trạng chặt trộm gỗ, phát nương làm rẫy, chăn thả gia súc và thu hái lâm sản ngoài gỗ diễn ra thường xuyên quanh vùng lõi khu bảo tồn.

Đề xuất giải pháp của tác giả

  • Bảo tồn tại chỗ (in-situ): Bảo vệ nghiêm ngặt 2 cá thể cây mẹ tại ÔTC 15 và 16. Cắm biển báo, lập ranh giới quản lý bảo vệ tuyệt đối cây mẹ; tăng cường tuần tra kiểm soát của lực lượng kiểm lâm tại các tiểu khu giáp ranh thôn Bản Eng, Bản Tưn, Bản Ó.
  • Biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Tiến hành phát quang dây leo, cây bụi chèn ép trong bán kính 10 - 15m xung quanh gốc 2 cây mẹ nhằm cải thiện điều kiện ánh sáng và độ xốp của đất, hỗ trợ hạt rụng tự nhiên dễ tiếp xúc với đất ẩm để nảy mầm.
  • Bảo tồn chuyển vị (ex-situ) và tạo giống: Thu hái hạt chín vào mùa quả chín (khoảng tháng 9 - 11), xây dựng vườn ươm thực nghiệm nhân giống vô tính và hữu tính tại chỗ để cung cấp cây giống phục vụ trồng bổ sung, làm giàu rừng.
  • Phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm: Hỗ trợ đồng bào Tày, Dao áp dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh lúa nước, chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm hạn chế tình trạng du canh phát nương, giảm tỷ lệ hộ nghèo (hiện chiếm 54,14% tại Xuân Lạc và 29,3% tại Bản Thi), từ đó triệt tiêu nguyên nhân gốc rễ dẫn đến việc vào rừng khai thác trộm gỗ.

Đóng góp mới của tác giả

Khóa luận là công trình điều tra thực địa có hệ thống đầu tiên về đặc tính sinh học, hiện trạng phân bố và cấu trúc tái sinh của loài Chò đãi (Annamocarya sinensis) tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc. Nghiên cứu đã cung cấp số liệu trắc lượng cụ thể về hình thái lá chét, kích thước thân cây mẹ, tổ thành sinh thái và chứng minh nguy cơ tuyệt chủng cục bộ của loài này tại địa phương nếu không có biện pháp can thiệp kỹ thuật khẩn cấp.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế trong văn bản: Số lượng cá thể Chò đãi phát hiện ngoài tự nhiên quá ít (chỉ 2 cây mẹ trưởng thành và 7 cây con tái sinh trên tổng diện tích 16 ÔTC), dẫn đến việc phân tích định lượng dựa trên cỡ mẫu nhỏ. Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong 5 tháng (từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014), chưa theo dõi trọn vẹn chu kỳ sinh vật học quanh năm như mùa thụ phấn của hoa đực/hoa cái, thời điểm quả chín và tỷ lệ nảy mầm tự nhiên theo mùa. Địa hình núi đá vôi dốc đứng và chia cắt mạnh gây cản trở việc thiết lập ÔTC đồng nhất 2.000 m².
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiến hành theo dõi thường niên chu kỳ sinh sản và sinh vật học của 2 cây mẹ; nghiên cứu thử nghiệm kỹ thuật giâm hom, ghép cành và xử lý hạt giống kích thích nảy mầm trong vườn ươm; mở rộng phạm vi điều tra sinh cảnh sang các khu vực núi đá vôi lân cận thuộc Vườn quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận cung cấp nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sinh, Lâm học, Sinh thái học và Đa dạng sinh học tham khảo phương pháp điều tra thực vật rừng, phương pháp thiết lập ô tiêu chuẩn, ô dạng bản, tính toán chỉ số giá trị quan trọng ($IVI$) và đánh giá tái sinh rừng.
  • Cán bộ kỹ thuật, lực lượng kiểm lâm và Ban quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc sử dụng trực tiếp số liệu định vị tọa độ, hiện trạng 2 cây mẹ và mật độ cây tái sinh để lập phương án bảo vệ nguồn gen đặc hữu, quý hiếm.
  • Phần đáng tham khảo nhất bao gồm: Phương pháp luận và công thức toán học đo đếm cấu trúc lâm phần ($IVI$, hệ số tổ thành $K_i$); hệ thống bảng số liệu kích thước lá chét biến thiên theo vị trí cuống lá; thang điểm định lượng tác động con người tại vùng đệm khu bảo tồn.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu cá thể cây Chò đãi trưởng thành tại khu vực nghiên cứu và kích thước cụ thể là bao nhiêu? Trong toàn bộ 16 ÔTC khảo sát, tác giả chỉ ghi nhận được đúng 2 cá thể Chò đãi trưởng thành còn nguyên vẹn:

  • Cá thể thứ nhất (tại ÔTC 15): Đường kính ngang ngực $D_{1,3} = 2,0$ m, chiều cao vút ngọn $H_{vn} = 35$ m.
  • Cá thể thứ hai (tại ÔTC 16): Đường kính ngang ngực $D_{1,3} = 0,9$ m, chiều cao vút ngọn $H_{vn} = 30$ m.

2. Mật độ và đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Chò đãi được ghi nhận như thế nào? Tại 2 ÔTC có Chò đãi (tổng diện tích 10 ô dạng bản là 250 m²), chỉ đếm được 7 cây tái sinh, tương đương mật độ trung bình 560 cây/ha. Cây tái sinh chủ yếu phát tán quanh gốc mẹ trong bán kính dưới 10m. Về nguồn gốc, cây mọc từ hạt chiếm đa số (67,67% - 80%), từ chồi chiếm 20% - 32,33%. Về chất lượng, cây đạt loại tốt chỉ chiếm 20% - 33,33%, còn lại là trung bình và xấu; cây triển vọng ($H_{vn} > 2$ m) rất hiếm.

3. Nhận thức và hành vi sử dụng của người dân bản địa đối với loài Chò đãi ra sao? Kết quả phỏng vấn 30 người dân cho thấy 100% người dân chưa từng gieo ươm, gây trồng loài cây này. Về mục đích sử dụng, 53,33% người dân khai thác để bán gỗ, 26,67% khai thác sử dụng làm nhà hoặc vật dụng gia đình, và 20,00% kết hợp vừa bán vừa tự sử dụng. Loài cây bị khai thác mạnh trong những năm gần đây làm số lượng suy giảm nghiêm trọng.

4. Vị trí phân loại và mức độ đe dọa của Chò đãi theo các thang bậc khoa học hiện hành là gì? Loài Chò đãi có tên khoa học là Annamocarya sinensis (Dode) Leroy., thuộc họ Hồ đào (Juglandaceae). Loài được xếp vào cấp Nguy cấp (EN) trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 và thuộc Nhóm IIA theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

5. Điều kiện lập địa và độ tàn che nơi loài Chò đãi xuất hiện có đặc điểm gì? Chò đãi phân bố tại các thung lũng, chân núi hoặc ven khe suối có tầng đất ẩm dày, màu mỡ, trung tính đến kiềm nhẹ. Độ tàn che tại các điểm khảo sát đạt từ 0,66 đến 0,77 (trung bình 0,71), cho thấy đây là loài cây ưa ẩm, sinh trưởng thích hợp trong các quần xã rừng có độ che phủ tán cao.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Lò Văn Tuyền đã cung cấp bức tranh chi tiết về hiện trạng sinh học, phân bố và sinh thái của loài Chò đãi (Annamocarya sinensis) tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc. Kết quả điều tra thực tế khẳng định loài đang ở tình trạng cực kỳ nguy cấp tại địa phương với chỉ 2 cá thể trưởng thành sót lại trong các ô tiêu chuẩn và khả năng tái sinh tự nhiên rất thấp. Công trình đặt nền móng cơ sở dữ liệu quan trọng cho các hoạt động quản lý, bảo tồn nguyên vị và nghiên cứu nhân giống phục hồi nguồn gen cây rừng quý hiếm này trong tương lai.