Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm sinh học cây hồng Cây hồng là cây ăn quả quý không chỉ đem lại thu nhập cao mà còn có giá trị tạo cảnh quan và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Phát triển cây hồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu và góp phần trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.
Cây hồng không phải là cây thường xanh mà cần có một thời gian ngừng sinh trưởng. Thời kỳ này cây rụng toàn bộ lá để chuẩn bị cho thời kỳ phát lộc, ra hoa. Hồng ra lộc vào mùa xuân khi tiết trời đã có mưa và ấm hơn. Lộc ra cùng với hoa…Chính vì vậy, khi hiểu biết rõ các đặc điểm sinh học ở hồng sẽ có các biện pháp kỹ thuật hợp lý điều khiển quá trình ra lộc, ra hoa, đậu quả, hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng hồng [22], [26], [13], [14], [15].
Thực tiễn cho thấy, năng suất quả hồng không ổn định do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, trình độ thâm canh… Do vậy, nghiên cứu các đặc điểm sinh học của cây hồng giúp ta hiểu biết sâu sắc hơn, từ đó làm tiền đề xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh. Để nâng cao năng suất và chất lượng quả hồng thì ngoài các yếu tố nội tại và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, thời tiết, giống tốt… thì việc nghiên cứu quy luật ra cành, ra hoa, đậu quả, mối liên hệ giữa các đợt lộc, mối liên hệ giữa cành mẹ và cành quả… là rất cần thiết, từ đó có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc, bồi dưỡng cành mẹ, cành quả… tạo điều kiện tốt nhất cho việc tăng năng suất, n 5 chất lượng quả hồng. Đồng thời, góp thêm hiểu biết cơ bản trong việc xây dựng hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh. Mặt khác, chưa có những nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học cây hồng nói chung và hồng Yên Minh nói riêng, do đó đi sâu nghiên cứu nội dung này là rất cần thiết.
Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng Chất điều hoà sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như là một phương tiện điều chỉnh hoá học quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển của cây. Chúng có nhiều ứng dụng như kích thích nhanh sự sinh trưởng của cây, điều khiển sự ngủ nghỉ của hạt và củ, điều khiển sự ra hoa và giới tính của hoa, tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt, điều khiển sự chín của quả, ngăn chặn sự rụng lá, hoa, quả, tăng khả năng chống chịu của cây trồng…(Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Trần Văn Phẩm, 1994 [6]; Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, 1996 [5]). Các chất điều hoà sinh trưởng có chức năng điều chỉnh sự hình thành các cơ quan sinh sản và các cơ quan dự trữ hormon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thu hoạch. Bằng việc xử lý các chất điều hoà sinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhau, con người có thể nâng cao năng suất và phẩm chất sản phẩm nông nghiệp [16], [12], [4], [5], [6].
Quả được hình thành sau khi xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh. Hợp tử phát triển thành phôi. Phôi sinh trưởng là trung tâm sản sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và Gibberellin. Các chất này khuếch tán vào bầu và kích thích sự lớn lên của bầu thành quả.
Vì vậy nếu không có quá trình thụ phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng [12], [4], [5], [6], [8]. Trong những năm gần đây người ta thấy rằng một số chất điều hoà sinh trưởng (auxin, gibberellin) có khả năng hạn chế sự rụng hoa, rụng quả, tăng cường sự sinh trưởng làm tăng kích thước quả, tăng cường sự vận n 6 chuyển vật chất về cơ quan có giá trị kinh tế nhờ vậy mà làm tăng hệ số kinh tế, tăng năng suất kinh tế và phẩm chất cây trồng [4], [5]. Nếu chúng ta sử dụng auxin và gibberellin ngoại sinh cho hoa trước thụ phấn, thụ tinh thì chúng có thể thay thế được nguồn phytohormon nội sinh từ phôi và quả sẽ được hình thành, nhưng không qua thụ tinh thì quả sẽ không có hạt. Việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng làm tăng sự đậu quả và tạo quả không hạt được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả cao trong sản xuất với các đối tượng: Nho, bầu bí, cà chua, táo… [4], [5], [8], [9] [10].
Phạm Văn Côn (2004) [16] cho rằng: Khi phun NAA nồng độ 10ppm và GA3 nồng độ 30ppm vào thời kỳ sau hoa nở rộ có tác dụng làm giảm tỷ lệ rụng hoa, quả rõ rệt đặc biệt là GA3. Theo Lưu Vinh Quang (1995) [11]: Ở cây hồng tỷ lệ đậu quả khá cao nhưng tỷ lệ rụng quả cũng tương đối lớn. Chính vì vậy mà trong thực tế sản xuất, sản lượng hồng thu hoạch được còn chưa cao, và không ổn định. Điều này xảy ra còn do các yếu tố như: Giống, khí hậu, kỹ thuật canh tác, mức đầu tư sản xuất… Tỷ lệ rụng quả cao nhất có thể tới 70%, trong đó giống hồng vuông có tỷ lệ rụng cao nhất (Lưu Vinh Quang, 1995 [11]).
Có đến 97% tỷ lệ rụng quả là do rụng sinh lý. Rụng quả sinh lý bao gồm: Quả không thụ tinh, hoa nở muộn, thiếu nắng, mất cân đối về dinh dưỡng, mất cân đối về chất điều hoà sinh trưởng. Để khắc phục nguyên nhân này có thể dùng một số chất điều hoà sinh trưởng phun lên cây trong những giai đoạn nhất định nhằm giảm tỷ lệ rụng quả. Phun chất điều hoà sinh trưởng không những thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của cây, mà còn làm chậm việc hình thành tầng rời, bảo đảm cho việc vận chuyển các chất dinh dưỡng vào nuôi quả, do đó giảm được tỷ lệ rụng quả.
Như vậy, việc nghiên cứu phun chất điều hoà sinh trưởng cho cây hồng làm tăng tỷ lệ đậu quả và tăng năng suất thu hoạch là rất cần thiết trong điều kiện hiện nay. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 1. Nguồn gốc và phân bố Cây hồng có nguồn gốc từ Trung Quốc (nguyên sản ở lưu vực sông Trường Giang), phân bố tự nhiên từ 32o - 37o vĩ độ Bắc [23], [24], [1]. Loài được trồng phổ biến nhất hiện nay là hồng Phương Đông (Diospyros kaki T), có nơi gọi là “hồng Á nhiệt đới” hay “hồng Nhật Bản”, chi Diospyros bao gồm gần 200 loài thân gỗ, ở Nhật Bản người ta gặp hơn 40 loài, ở Trung Quốc 30 loài [22], [26], [13].
Theo một số tác giả: Khi nghiên cứu về nguồn gốc cây hồng phương đông đều cho rằng một số nhóm hồng thuộc loài hồng dại Diospyros kaki tồn tại trong những khu rừng của Trung Quốc. Tài liệu về cây hồng xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5, 6 [29], [35], [45]. Trên thế giới hồng được trồng nhiều nhất ở Trung Quốc, khắp lãnh thổ đều trồng được hồng [23], [24], [25]. Từ Trung Quốc hồng được đưa đến trồng quanh Địa Trung Hải và đưa sang trồng ở Mỹ từ năm 1852, được nhập vào châu Âu năm 1789 [14], [15], [16], [23], [24].
Tại Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào xác định rõ nguồn gốc và xuất xứ của cây hồng, nhưng cây hồng đã được trồng nhiều ở các tỉnh từ Bắc Trung Bộ trở ra và nhiều nhất ở miền Bắc. Ở Nam Trung Bộ hồng được trồng ở Đà Lạt do có khí hậu mát và lạnh về mùa đông giúp cây hồng có giai đoạn ngủ nghỉ như ở các vùng á nhiệt đới khác. Miền Bắc hiện có rất nhiều giống hồng quý và mang tên khác nhau theo từng địa phương. Như vậy, mặc dù có nguồn gốc ở Trung Quốc nhưng cây hồng đã được di thực và trồng ở nhiều nơi trên thế giới.
Điều đó chứng tỏ, cây hồng có khả năng thích ứng khá tốt với điều kiện khí hậu ở nhiều vùng khác nhau. Phân loại hồng Cây hồng (Diospyros) thuộc bộ thị (Ebenales), họ thị (Ebenaceae), phân lớp sổ (Dilleniaceae), thuộc lớp hai lá mầm (Dicotyledoneae), ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) [22], [11]. Theo Yung Kyung Choi, Jung Ho Kim (1972) [27] trích dẫn kết quả nghiên cứu của các nhà phân loại học n 8 Nhật Bản cho biết: Hiện nay có 800 - 1000 loài hồng và chỉ có 4 loài được trồng để lấy quả đó là: Diospyros Kaki Linn, Diospyros Lotus Linn, Diospyros Oleifera Cheng, Diospyros Virginiana Linn. Chi Diospyros gồm 400 loài, chủ yếu phân bố ở vùng á nhiệt đới châu Á, châu Âu và Nam Mỹ, một số loài trong đó có hồng phương đông phân bố rộng trên các vùng ôn đới [19], [39], [44].
Cây hồng (Diospyros kaki Linn) được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số vùng khí hậu ôn hoà và cận nhiệt đới như: California (Mỹ), Italia, Israen, Braxin, Niudilan, Úc… có hai nhóm hồng chính là hồng chát và không chát. Nhóm hồng không chát có khả năng thương mại lớn hơn (Kitagawa H., Glucina PG, 1984 [41]; Mowat A. D và cộng sự, 1994 [45]). Theo (Facciolas, 1990, [33]; Sabuco Ito, 1971, [48]) cho biết: Chi Diospyros phổ biến ở những vùng khí hậu ấm áp châu Á và bắc Mỹ, gồm 190 loài, trong đó chỉ có 4 loài được trồng nhiều và có giá trị kinh tế nhất là: Diospyros Kaki Linn, Diospyros Lotus Linn, Diospyros Oleifera Cheng, Diospyros Virginiana Linn.
Theo Phạm Văn Côn trích dẫn tài liệu của Voronxov (1982), trên thế giới hiện nay đang trồng phổ biến 3 loại hồng sau [13]: Hồng dại (Diospyros lotus L), Hồng Virginiana (Diospyros Virginiana L), Hồng Phương Đông (Diospyros kaki T). Trong đó hồng Phương Đông được trồng phổ biến nhất ở Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Angieri, Triều Tiên, Indonesia, Philippin… Theo các nhà phân loại Nhật Bản, hồng có khoảng 190 loài thuộc họ thị (Ebenaceae) nhưng chỉ có 4 loài được trồng để lấy quả [19], [13], đó là: - Diospyros Kaki Thunb nguồn gốc ở Trung Quốc, quả dùng để ăn tươi, sấy khô. - Diospyros Lotus Linn nguồn gốc ở Afganistan, quả dùng để ăn tươi, làm gốc ghép, làm thuốc nhuộm. - Diospyros Oleifera Cheng nguồn gốc ở Trung Quốc, quả dùng để làm thuốc nhuộm là chính.
n 9 - Diospyros Virginiana Linn nguồn gốc ở Bắc Mỹ, quả dùng làm thuốc nhuộm.