MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, nền nông nghiệp nước ta có thêm nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng có không ít thách thức, đòi hỏi phải thay đổi sao cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Từ xưa đến nay nông nghiệp vẫn là cốt lõi của sự phát triển. Hơn 60% dân số coi nông nghiệp là nguồn sinh kế chính.
Bên cạnh phát triển ngành trồng trọt nói chung và phát triển chăn nuôi nói riêng. Hiện nay chăn nuôi cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là chăn nuôi trâu bò, với hệ thống tổ chức, năng lực chăn nuôi, thú y còn rất nhiều bấp bênh chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn phát triển và nhu cầu hội nhập cùng phương thức chăn thả tự nhiên theo truyền thống trên các bãi, đồi, các chân ruộng bỏ hoang không còn phù hợp nữa, vì diện tích đất tự nhiên ngày càng thu nhỏ bởi nhiều mô hình kinh tế có giá trị cao. Việc tổ chức trồng cỏ cung cấp cho nhu cầu đàn gia súc con chưa được chú trọng đúng mức, chủ yếu là các cơ sở quốc doanh tập thể. Nhưng nhờ chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, những năm gần đây ngành chăn nuôi trên địa bàn xã những khởi sắc đáng kể, nhất là chăn nuôi gia súc ăn cỏ.
Cùng với đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc trên toàn xã phát triển các mô hình chăn nuôi gia súc tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa tại các hộ gia đình, xu hướng này cũng đã và đang diễn ra tại các tỉnh miền núi. Bên cạnh số đầu gia súc không ngừng tăng lên về số lượng, đòi hỏi nguồn thức ăn thô xanh cũng phải tăng lên một cách đồng bộ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, đặc biệt là vào mùa khô. Giải pháp mang tính chiến lược đặt ra từ những năm 80 của thế kỷ 20, đó là trồng các giống cỏ có năng suất cao, chất lượng tốt cung cấp cho gia súc. Song chúng ta đều biết, đặc điểm cơ bản của kỹ thuật đồng cỏ là “tính hệ n 2 thống”, ngoài kỹ thuật chăn thả, chế độ chăn thả tự nhiên (còn có các yếu tố khác như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện sản xuất (phân bón, giống, chăm sóc,…), mục tiêu kinh tế.
Chính “việc quan tâm chưa toàn diện các yếu tố này cũng là một trong nhưng nguyên nhân làm cho diện tích đồng cỏ chưa phát triển và đáp ứng nhu cầu nhu mong muốn” (Hamphray,1980) [19]. Như vậy, để đồng cỏ sinh trưởng tốt đạt năng suất cao thì ngoài yếu tố giống, chế độ chăm sóc, chúng ta cần phải chú ý đến bón các loại phân cho đồng cỏ. Các loại phân bón khác nhau (đạm, Kali, lân,…) sẽ tác động đến năng suất cỏ. Cùng một loại phân bón nhưng bón với liều lượng khác nhau cũng cho ta năng suất khác nhau.
Trong những năm gần đây, có thêm một số giống cỏ mới có khả năng cho năng suất cao, sinh trưởng và phát triển ở những nơi khô cạn, dốc. Nhưng ở các nông hộ cũng phải bỏ ra một diện tích đất khá nhiều để trồng cỏ, nếu đối với các giống cỏ cho năng suất cao thì có thể cho năng suất gấp đôi khi được canh tác tốt. Điển hình là giống cỏ VA06 có khả năng cho năng suất rất cao khi được canh tác chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật. Tân Nam là xã vùng cao núi đất với 98% làm nông, chủ yếu canh tác ruộng bậc thang ở các chân, sườn đồi.
Với phương châm “con trâu là đầu cơ nghiệp”, canh tác chủ yếu là nhờ sức trâu, bò kéo. Do vậy, việc trồng các loại cỏ có năng suất, chất lượng cao, giàu dinh dưỡng phục vụ đàn gia súc vào mùa khô là vô cùng cấp thiết. Và trong những năm gần đây phong trào trồng cỏ cho chăn nuôi trâu, bò trên toàn xã có những bước phát triển đáng kể về số lượng. Cỏ VA06 là một giống cỏ mới có nguồn gốc được lai tạo giữa giống cỏ voi thường và cỏ đuôi sói của châu Mỹ.
Hiện nước ta đã có rất nhiều giống cỏ có năng suất hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt giống cỏ Varisme số 6 (viết tắt là VA06) được đánh giá là " Vua của các loại cỏ". Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất cỏ VA06 (Varisme) tại xã Tân Nam, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang”. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được sinh trưởng và năng suất chất xanh của cỏ VA06 trồng tại xã Tân Nam, huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang. Đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng cỏ VA06 tại địa phương 1.
Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học được trên lớp vào thực tế sản xuất và biết cách trình bày một khóa luận. - Giúp sinh viên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn, có tác phong làm việc khoa học, nghiêm túc, sáng tạo và đúc rút được những kinh nghiệm từ thực tế. Ý nghĩa trong thực tiến sản xuất Qua thời gian thực tập tại xã Tan Nam, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, được sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ chính quyền địa phương, giúp tôi có điều kiện tiếp xúc thực tế với công việc chuyên môn, củng cố hiểu biết thêm về kiến thức nghề nghiệp của mình. Điều quan trọng là tôi đã rút được bài học kinh nghiệm cho bản thân như: - Trong thời gian thực tập tại địa phương tôi đã nhận thấy rằng một số loại giống cỏ được người dân trồng chưa đúng kỹ thuật, chiếm diện tích lớn, tốn nhiều công sức tôi đã trực tiếp hướng dẫn và đưa ra một số phương pháp mới giúp người dân trong quá trình trồng đánh rãnh để tận dụng diện tích.
- Tôi biết được các loại bệnh thường gặp, ngoài ra cũng biết được các quy trình chăm sóc về đàn gia súc tại các hộ gia đình. - Biết được nhiều giống cỏ có năng suất cao và hơn thế nữa tôi đã trồng đúng với kỹ thuật thành công giống cỏ VA06 cho năng suất rất cao giúp cho địa phương từ thiếu cỏ cho trâu vào mùa đông, thậm chí còn bớt thêm diện tích trồng cỏ sang trồng cây rừng và các loại hoa màu khác trên địa bàn. n 4 - Ngoài ra tôi còn học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ việc trồng các loại hoa màu trên đất dốc từ người dân địa phương. - Từ những kết quả đã làm được tôi tự nhận thấy tay nghề chuyên môn vững vàng hơn rất nhiều, thêm lòng yêu nghề và tự tin trong công việc.
Và tôi thấy chủ trương của Nhà trường là cho sinh viện về địa phương thực tập là rất quan trọng, cần thiết và bổ ích. Thực tập giúp sinh viên nắm vững hơn kiến thức đã được học, gắn lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, đồng thời củng cố và nâng cao lòng yêu nghề nghiệp cho mỗi sinh viên. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Khái quát về cỏ hoà thảo *) Đặc tính thực vật của cỏ hoà thảo Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Graminea) và có 28 họ phụ, 563 giống, 6802 loài. Cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng trong nguồn thức ăn xanh của gia súc ăn cỏ, vì nó chiếm 95 - 98% trong thảm cỏ (Từ Quang Hiển và cộng sự, 2002) [4]. *) Đặc tính sinh thái Cỏ hòa thảo đặc điểm sinh thái học là các mối quan hệ riêng biệt của thực vật với từng yếu tố sinh thái, cũng như ảnh hưởng của thực vật trên nơi sống. Cỏ hòa thảo có vị trí quan trọng trong thảm cỏ do cỏ hoà thảo có khả năng phân bố rộng rãi, có thể thích ứng được ở nhiều vùng và trong nhữngđiều kiện đất đai khí hậu khác nhau.
Cỏ hoà thảo có thể sinh trưởng. Một số loài có thể sinh trưởng được ở các vùng đất khô hạn, độ ẩm trung bình 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát dục tốt như: cỏ xương cá, cỏ lông đồi (Eulalia), cỏ B. Một số loài sinh trưởng được ở những vùng đất ẩm, độ ẩm lớn từ 60 - 80%, mùa khô độ ẩm thấp hơn nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát dục bình thường như: cỏ Paspalum atratum, cỏ đuôi bò (Festuca rubra), cỏ đuôi mèo (Pleuin pratense). Có loài sống cả ở những nơi đất nhập nước, đất thụt lầy như: Cỏ môi (Leersia hexandra), cỏ bấc (Juncus effusus), cỏ lồng vực (Echilochloa crus - galli).Như vậy, dựa trên cơ sở đặc tính sinh lý có thể nói thực vật trong đồng cỏ tồn tại trong những điều kiện khác nhau nên ta có thể chọn giống cỏ phù hợp để trồng trên các địa hình đất đai khác nhau, có độ ẩm, độ cao khác nhau.
n 6 *) Đặc tính sinh vật Cỏ hoà thảo là cây có một lá mầm (đơn tử diệp) thân tròn hoặc bầu dục (tuỳ theo giống), lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to, có thìa lìa, phiến lá dài, vân lá song song. Thân cỏ thuộc loại thân rạ, rỗng (trừ mấu đốt). Cũng có loài thân đặc như cỏ voi, goatemala, rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến,1976) [2]. Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng người ta chia cỏ hoà thảo thành các loại sau: * Loại thân rễ: Loại thân này nằm dưới mặt đất, chia nhánh dưới mặt đất, đại diện là cỏ tranh (Jmperata cylindrica) loài này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thưa, độ che phủ thưa có thể trồng làm đồng cỏ chăn thả.
* Loại thân bụi: Loại này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành bụi như khóm lúa, bộ rễ phát triển mạnh, nhánh có thể đẻ từ dưới mặt đất hoặc lên trên mặt đất. Cỏ này cho năng suất cao ở những nơi đất tốt, tơi xốp và thoáng khí. Đại diện loại cỏ này là cỏ ghinê (Panicum maximum); cỏ mộc châu (Paspalum wirvilei). Loại cỏ này có thể trồng để thu cắt hoặc chăn thả.
* Loại thân bò: Cỏ loại này thân nhỏ và mềm chính vì vậy thường nằm ngả trên mặt đất một số giống như dây lang, từ các đốt có thể đâm rễ xuống mặt đất. Do thân bò lan và nằm ngả trên mặt đất nên nó có khả năng tạo nhanh thành một thảm cỏ dầy đặc, che phủ kín mặt đất. Đại diện là cỏ pangola (Digitaria decumbens), Lông para (Brachiaria mutica).