Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học về nghiên cứu đặc điểm nông sinh học Cây ăn quả nói chung và cây thanh long nói riêng là một trong những cây có nhu cầu nhất định về môi trường và dinh dưỡng. Do có tính đa dạng về điều kiện sinh thái các mùa trong năm như ở miền bắc nước ta nói chung và ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng làm cho cây thanh long ngừng sinh trưởng, phát triển trong một thời gian nhất định, chưa phát huy được hết khả năng ra hoa, đậu quả của cây, làm ảnh hưởng một phần đến năng suất của thanh long khi thu hoạch.
Thanh long TL4 là giống thanh long ruột đỏ nguồn gốc từ Đài Loan, được công nhận giống sản xuất thử năm 2012, có ưu thế là sinh trưởng khoẻ, ra hoa đậu quả khá ổn định. Tuy nhiên, do mới được đưa về trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nên chưa đánh giá được khả năng sinh trưởng, tiềm năng năng suất, phẩm chất của giống cây trồng này. Quá trình canh tác của người dân tại địa phương còn mang tính quảng canh, bón phân theo hình thức tự phát, không cân đối. Việc xây dựng vùng trồng thanh long phải phù hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt.
Đồng thời, việc nghiên cứu đặc tính đặc trưng của giống cây trồng nhập nội này tại vùng đất mới trước khi nhân ra trên diện rộng là việc làm rất cần thiết. Cơ sở khoa học về việc bổ sung dinh dưỡng Thanh long TL4 trồng ở miền Bắc nước ta và ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng ra hoa tốt nhưng tỷ lệ đậu quả không cao dẫn đến năng suất thấp. Ngoài ra, khối lượng quả của thanh long TL4 cũng là vấn đề cần 6 chú ý khi trồng trọt trong điều kiện sinh thái Lập Thạch – Vĩnh Phúc. Nguyên nhân của hạn chế này được nhiều tác giả cho rằng: có thể là do chế độ chăm sóc, việc bổ sung dinh dưỡng cho cây chưa cân đối và hợp lý.
Bên cạnh việc bón phân qua rễ thì việc sử dụng phân bón qua lá cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật có thể sử dụng để làm tăng năng suất, chất lượng quả thanh long. Tác dụng của phân bón qua lá là cung cấp nhanh và kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng cần thiết cho cây, đặc biệt là vào các thời kỳ ra hoa, đậu quả và phát triển của quả. Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, cần có những nghiên cứu cụ thể về đặc điểm nông sinh học và chế độ bổ sung dinh dưỡng hợp lí cho giống thanh long TL4 được trồng trong điều kiện huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và giống thanh long ruột đỏ TL4 nói riêng, do đó đi sâu nghiên cứu nội dung này là rất cần thiết. Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trên thế giới và trong nước 1.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trên thế giới Thanh long có thành phần chất xơ rất cao, trung bình 100 gram chứa 0,7 - 0,9 gam chất xơ, rất tốt cho cơ thể, làm giảm lượng cholesterol trong máu, tốt cho tiêu hóa, hạn chế táo bón, giải độc cơ thể. Mỗi ngày một người nên ăn khoảng 20-30 gam chất xơ, đây là mức tối ưu có thể giúp ngăn ngừa nhiều loại bệnh nan y như ung thư, bệnh tim, tiểu đường. Ngoài chất xơ, thanh long cũng giàu chất beta carotene, đây là một chất giúp cho cơ thể chuyển hóa vitamin thành provitamin, giúp loại bỏ các tế bào mà không dẫn đến nhiễm trùng. Dưới đây là các thành phần dinh dưỡng chính từ 100 gram trái cây thanh long: nước (g) 82,5 - 83; protein (g) 0,16 - 0,23; chất béo (g) 0,21 - 0; chất xơ (g) 0,7 - 0,9; beta carotene (mg) 0,005 - 0,012; canxi (mg) 6,3 - 8,8, phốt pho (mg) 30,2 - 36,1; sắt (mg) 0,55 - 0,65, vitamin B1 (mg) 7 0,28 - 0,30, vitamin B2 (mg) 0,043 để 0,045, vitamin C (mg) 8 - 9 và niasin (mg) 1,297 - 1,300 [33 tr 4].
Theo Mizrahi và ctv. (1997), thanh long thường được trồng hàng hoá với các loại khác nhau là: thanh long ruột trắng (Hylocereus undatus) và thanh long ruột đỏ hay tím (H. costaricensis) được trồng ở Nicaragua và Guatemala và thanh long ruột đỏ H. polyrhizus được trồng ở Israel.
Giống thanh long vỏ vàng (H. undatus) được trồng ở Mexico và châu Mỹ Latin và một giống thanh long vàng khác (Selenicereus magalani) nguồn gốc Trung và Nam Mỹ được trồng với diện tích không lớn tại Colombia, quả được xuất khẩu sang châu Âu và Canada [30 tr 12]. Sản phẩm sử dụng của thanh long được xếp vào nhóm quả tươi. Số liệu thống kê tình hình sản xuất quả tươi trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện trong bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng quả tươi toàn thế giới giai đoạn từ năm 2008 – 2012 Diện tích Năng suất Năm Sản lượng (tấn) (ha) (tạ/ha) 2008 4.977 (Nguồn: FAOSTAT & FAO Statistics Division 2014)[26] Số liệu thống kê ở bảng 1.1 cho thấy, năm 2008 diện tích trồng các loại quả sử dụng sản phẩm tươi như thanh long, táo, đào, lê… là 4.709 ha sau đó tăng dần lên 4.854 ha vào năm 2009 và đến năm 2012 đã là 4.
Năng suất năm 2008 đạt 65,051 tạ/ha, năm 2009 tăng lên 65,747 tạ/ha, kể 8 từ năm 2010 năng suất các loại rau quả tươi trên thế giới giảm dần đến năm 2012 chỉ còn 64,512 tạ/ha. Tuy năng suất có giảm nhưng sản lượng rau quả tươi vẫn tăng đáng kể, nếu như năm 2008 sản lượng là 28.613 tấn thì đến năm 2013 đã là 31.2: Diện tích, năng suất và sản lượng quả tươi của các châu lục trên thế giới năm 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Châu lục (ha) (tạ/ha) (tấn) Châu Âu 84.542 Châu Đại Dương 126.183 (Nguồn: FAOSTAT & FAO Statistics Division 2014)[26] Số liệu thống kê của FAO cho thấy, năm 2012, diện tích sản xuất quả tươi của châu Á đứng đầu trên thế giới với 3.863 ha, sản lượng lớn nhất đạt 22.570 tấn, tuy nhiên, về năng suất với 62.994 tạ/ha thì châu Á chỉ đứng thứ 4 trong tổng số 5 châu lục trên thế giới. Châu Âu có diện tích sản xuất quả tươi thấp nhất trên thế giới với 84.602 ha, đạt năng suất 58,546 tạ/ha, sản lượng đạt 495. Châu Đại Dương có diện tích sản xuất quả tươi là 126.084 ha chỉ cao hơn so với châu Âu, tuy nhiên, năng suất quả tươi của châu lục này lại lớn nhất thế giới đạt 84,799 tạ/ha với sản lượng đạt 1.
Châu Mỹ với diện tích sản xuất các loại quả tươi là 257.065 ha đạt năng suất 79,573 tạ/ha, sản lượng 2.3: Sản lượng quả tươi của một số quốc gia sản xuất quả tươi trên thế giới giai đoạn từ 2009 – 2012 Đơn vị tính:tấn Năm STT Quốc gia 2009 2010 2011 2012 1 Trung Quốc 2.000 (Nguồn: FAOSTAT & FAO Statistics Division 2014) [26] Trong những năm gần đây, do yêu cầu thực tế của đời sống ngày càng được nâng cao, tình hình tiêu thụ sản phẩm một số loại quả tươi như thanh long, táo, lê… gia tăng nhanh chóng. Mặt khác, các tiến bộ về khoa học kỹ thuật giúp nâng cao năng suất sản lượng cây trồng, theo xu hướng này thanh long cũng như các loại quả tươi khác sẽ trở thành một trong những thực phẩm không thể thiếu trong đời sống người tiêu dùng trên thế giới. Trong khu vực, một số quốc gia có diện tích và sản lượng thanh long lớn như: Đài Loan, Thái Lan, Myanma, Malaysia và Việt Nam.1: Biểu đồ thể hiện tình hình sản xuất thanh long ở Đài Loan từ năm 1999 - 2014 (Nguồn: Development of Integrated Crop Management Systems for Pitaya in Taiwan, 07/09/2015, Yi-Lu Jiang) [37] Theo số liệu ở hình 1.1 [37], cho thấy, diện tích trồng cây thanh long tại Đài Loan tăng mạnh trong những năm gần đây, tuy nhiên sản lượng thanh long của Đài Loan lại chững lại. Năm 1999 diện tích trồng thanh long ở Đài Loan đạt 379,59 ha, năng suất đạt 15 tấn/ha, sản lượng đạt 3.762 tấn thì đến năm 2014 diện tích đã là 1.675,92, năng suất đạt 24,548 tấn/ha, sản lượng đạt 38.4: Tình hình xuất khẩu thanh long của Thái Lan từ năm 2013 đến tháng 9 năm 2015 2013 2014 2015 (đến tháng 9) Quốc gia Sản Sản Sản Giá trị Giá trị Giá trị lượng lượng lượng (Baht) (Baht) (Baht) (tấn) (tấn) (tấn) Saudi Arabia 28,146 2,755,413 27,092 3,055,814 22,054 2,526,453 Quatar 14,279 1,167,649 19,950 1,818,238 5,183 545,884 Pháp 1,134 188,520 7,614 1,431,945 960 157,335 Kuwait 10,451 1,487,434 6,090 1,107,207 2,075 360,560 Laos 92,972 849,498 47,180 490,350 (Nguồn: Development of Integrated Crop Management Systems for Pitaya in Taiwan, 07/09/2015, Yi-Lu Jiang) [37] 11 Số liệu thống kê ở bảng 1.4 [37], cho thấy, Thái Lan xuất khẩu thanh long đến 5 quốc gia, đó là: Saudi Arabia, Quatar, Pháp, Kuwait và Lào với tổng sản lượng năm 2013 đạt 54,01 tấn, giá trị đạt 152.767,25 đô la Mỹ, năm 2014 đạt 130,282 tấn, giá trị 232.490,208 đô la Mỹ, 9 tháng đầu năm 2015 đạt sản lượng 34,99 tấn, giá trị 93.
Các sản phẩm chế biến từ quả thanh long hiện chưa có nhiều. Tuy nhiên, gần đây một số sản phẩm chế biến từ quả thanh long đã bắt đầu hiện diện trên thị trường ở Malaisia và Thái Lan. Theo Gao xi và Wan, (2004), Chuah và ctv (2008), ở Malaisia, thanh long đã được chế biến thành nhiều sản phẩm như các loại nước quả, kem, kẹo và rượu thanh long. Tuy nhiên, về mặt tiêu cực, còn nhiều yếu tố hạn chế đến tiềm năng năng suất và chất lượng quả thanh long.
Trong số đó, các điều kiện thời tiết như nhiệt độ thấp, mưa lớn có thể làm cho tỷ lệ ra hoa, đậu quả giảm, chất lượng quả thanh long thấp, mẫu mã xấu. Ngoài ra, kỹ thuật canh tác kém cũng dẫn đến sự cố nghiêm trọng của sâu, bệnh hại. Hiện nay, bệnh thán thư, bệnh thối loét thân cành, đốm nâu gốc và thối trái cây rất phổ biến ở các vùng trồng Thanh long lớn trong Châu Á và khu vực Thái Bình Dương. Các bệnh thối mục gốc truyền nhiễm mới nổi gần đây đã gây ra sự sụp đổ của nhiều vườn Thanh long ở khu vực Đông Nam Á.
Biện pháp bảo vệ để kiểm soát các bệnh này với thuốc trừ sâu hóa học không chỉ tốn kém cho nông dân quy mô nhỏ mà còn đang gây tổn hại đến sức khỏe con người và môi trường. Mặt khác, để thâm nhập vào các thị trường có giá trị cao hơn, trái cây Thanh long cần phải khắc phục được các vấn đề về sâu, bệnh, mẫu mã quả, nhược điểm về dư lượng thuốc BVTV, cùng với kích thước quả như mong muốn, hình dạng, màu sắc và hương vị đặc trưng.