CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thành ngữ không phải là một đề tài mới mẻ. Ở Việt Nam cũng như nước ngoài trong giai đoạn hiện nay, đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ phân tích, so sánh, đối chiếu về lĩnh vực này. Tiêu biểu có thể kể đến các nhà nghiên cứu trong nước như Nguyễn Như Ý (1996), Vũ Quang Hào (1995), Nguyễn Thiện Giáp (2008), Hoàng Văn Hành (2008), Nguyễn Thị Hồng Thu (2006), Ngô Minh Thủy (2006),.
Cùng với đó là những nhà nghiên cứu nước ngoài như Galperin (1981), Daiji Shinraishi (白石大二) (1950), Akira Nakamura (中村明)(1985), Yoshiyuki Morita (森田良行) (1994)… Điều đó cho ta thấy được sự quan tâm từ rất sớm của các nhà nghiên cứu. Hiện nay, không khó để có thể tìm gặp các bài báo viết, báo điện tử, giáo trình, khóa luận, luận văn hay luận án đề cập và nghiên cứu về vấn đề này. Trong xu thế hội nhập và phát triển mà nhu cầu học ngoại ngữ trở thành một nhu cầu tất yếu của con người, xã hội đã đưa ra nhiều yêu cầu cấp bách đòi hỏi giới nghiên cứu phải giải quyết. Tình hình nghiên cứu trong nước Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ như nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và phát triển, các vấn đề về ngữ nghĩa hoặc các bình diện về văn hóa của thành ngữ, tiêu biểu như các tác giả: Nguyễn Đức Dân (1986), Hoàng Văn Hành (1987), Phan Xuân Thành (1990, 1992, 1995), Nguyễn Như Ý (1992), Nguyễn Văn Khang (1994), v.v… Hướng nghiên cứu mới nhất là tiếp cận thành ngữ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận.
Trong công trình “Đặc trưng Văn hóa Dân tộc của ngôn ngữ và tư duy”, Nguyễn Đức Tồn (2006) đã nghiên cứu về “Đặc trưng tư duy của người Việt qua ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ” và rút ra kết luận ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ tiếng Việt thuộc tiểu loại ẩn dụ cấu trúc. Vì vậy, tác giả cho rằng khi xét ẩn dụ cấu trúc của một thành ngữ chính là xét ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ, cũng tức là xét mối quan hệ giữa nguồn và đích quy chiếu của ẩn dụ cấu trúc trong thành ngữ. Mặt khác, nghiên cứu thành ngữ còn được đặt dưới góc độ hình thái cấu trúc, ngữ nghĩa rằng thành ngữ có hình thái cấu trúc cố định và ổn định, nó được cấu tạo bởi thành phần trung tâm và thành phần phụ trước sau. Thành ngữ có trường nghĩa đa dạng và phong phú bởi nó mang nhiều tầng nghĩa ẩn chứa đằng sau các từ ngữ thành phần.
Có thể nhắc đến một số công trình như: “Thành ngữ trong tiếng Việt” (Hoàng Văn Hành, 1987); “Đặc điểm hình thái 4 và ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh tiếng Việt (so sánh với thành ngữ so sánh tiếng Anh) (Lâm Bá Sĩ, 2002); “So sánh cấu trúc - chức năng của thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt” (Hoàng Diệu Minh, 2002). Hay tác giả Ngô Minh Thủy (2006) đã nghiên cứu về “Đặc điểm thành ngữ tiếng Nhật (trong sự so sánh với thành ngữ tiếng Việt)” chỉ ra rằng “thành ngữ trong tiếng Nhật cũng có số lượng tương đối lớn và cũng như nhiều ngôn ngữ khác, thành ngữ tiếng Nhật chứa đựng nhiều đặc trưng văn hóa dân tộc của đất nước Nhật Bản”. Bên cạnh đó, các thành tố chỉ thiên nhiên, con người trong thành ngữ cũng là những đối tượng nghiên cứu thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Như tác giả Trịnh Cẩm Lan (1995) khi nghiên cứu “Đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa và những giá trị biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt trên cứ liệu thành ngữ có yếu tố cấu tạo là tên gọi động vật” đã nghiên cứu đối tượng là thành tố động vật trong thành ngữ nhưng chưa đi vào miêu tả cụ thể các nghĩa khác nhau.
Đến tác giả Nguyễn Thúy Khanh trong “Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt - tiếng Nga” (luận án phó tiến sĩ, 1996), đã đi vào nghiên cứu khá sâu ngữ nghĩa tên gọi động vật trong tiếng Việt và có đề cập đến một phần “ý nghĩa biểu trưng” của các thành ngữ so sánh tên gọi động vật. Tình hình nghiên cứu ngoài nước - Trong Tiếng Anh, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ. + Galperrin (1981), Stylistic - tạm dịch Phong cách học và Simpson (2004), Stylistic - tạm dịch Phong cách học đã minh họa sự hiểu biết xuyên suốt về thành ngữ và những cách diễn đạt phức tạp. + Seidl (1978), English Idioms and How to Use Them trong lần phát hành thứ tư cuốn Thành ngữ Tiếng Anh và cách dùng chúng đã trình bày về thành phần của thành ngữ và thành ngữ trong những tình huống đặc biệt và phân loại chúng.
- Về phía Nhật Bản, đã có nhiều nhà ngôn ngữ tham gia nghiên cứu về lĩnh vực này từ nghiên cứu chung về thành ngữ, phân biệt các khái niệm tương đồng với thành ngữ hay đi sâu vào nghiên cứu cá cấu trúc cơ bản và đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ. Khái niệm của thành ngữ được đề cập đến nhiều công trình như: 国広哲 弥 (1985)“慣用句論”; 白石大二 (1950)“日本語のイディオム”; 井門 亮 (2012) “イディオム解釈とアドホック概念”… với định nghĩa thành ngữ là những cụm cố định, có nghĩa chung không xuất phát từ các từ cấu thành nó. Nghĩa của thành ngữ cũng được thể hiện qua nhiều biện pháp tu từ được sử dụng trong câu. 5 Đề cập đến thành ngữ có cấu tạo bởi các cụm chính phụ và cụm chủ vị.
Loại cụm chính phụ được xác định bởi từ loại của thành tố trung tâm, có các công trình tiêu biểu: 大坪喜子 (1985) “名詞慣用句─特に隠喩的慣用句に つい て─”; 白石大二 (1977) “慣用句とその種類─高田与清… Ngoài ra còn nghiên cứu về các thành tố trong thành ngữ như công trình 有薗智美 (2013) “行為のフレームに基づく「目」、「耳」、「鼻」の意味拡張─ 知覚行為か ら高次認識行為へ─” có nhắc đến một phần các thành tố “mắt”, “tai”, “mũi” xuất hiện trong thành ngữ và những ý nghĩa biểu đạt của nó. Tuy nhiên, trong giới hạn tìm hiểu của mình, nghiên cứu chưa tìm thấy luận văn, luận án nào thực hiện việc so sánh đối chiếu thành ngữ chứa thành tố chỉ thực vật trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật. Các nghiên cứu từ trước đến nay, việc so sánh đối chiếu thành ngữ Việt - Nhật thường được đặt dưới góc độ nhìn nhận các yếu tố bộ phận cơ thể con người, động vật, những tài liệu so sánh thành ngữ Việt - Nhật hiện nay chủ yếu là các tài liệu từ điển, sách dịch học tiếng, sách ngữ pháp. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và chỉ ra những điểm tương đồng, dị biệt của yếu tố thực vật trong thành ngữ giữa hai ngôn ngữ là một vấn đề hoàn toàn mới, chưa có tác giả nào trước đây đi vào nghiên cứu so sánh cụ thể.
Thành ngữ và các đặc trưng thành ngữ 2. Khái niệm về thành ngữ Thành ngữ là một đơn vị từ vựng quan trọng của ngôn ngữ. Mặc dù thành ngữ có lịch sử hình thành lâu đời và với một khối lượng đồ sộ trong kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt nhưng lại chưa có một công trình nghiên cứu hay một định nghĩa thống nhất dành cho thành ngữ được đưa ra. Đối với đề tài nghiên cứu về thành ngữ, cho đến hiện nay vẫn có rất nhiều ý kiến khác nhau của các nhà ngôn ngữ học về định nghĩa thành ngữ.
Trong cuốn “Về ranh giới thành ngữ, tục ngữ”, Ngôn ngữ số 3/1972, tác giả Nguyễn Văn Mệnh (1972) có viết: “Thành ngữ là đơn vị có nội dung giới thiệu, miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách, một trạng thái. Về mặt hình thức, tuyệt đại đa số chúng là những cụm từ cố định”. Cũng đồng quan điểm với Nguyễn Văn Mệnh, Đái Xuân Ninh (1986) cũng có nhận định: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các yếu tố cấu tạo đã mất tính độc lập ở cái mức độ nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc”. Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm”, trong “Từ vựng học tiếng Việt”, NXB Giáo dục (2005).
6 Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” (2006), NXB Đà Nẵng, tác giả Hoàng Phê cho rằng: “Thành ngữ là tập hợp cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó”. Có thể nhận thấy những nhận định trên thuộc về quan điểm coi thành ngữ là một đơn vị cố định về cấu trúc và có nghĩa hoàn chỉnh. Bên cạnh đó cũng có những nhận định khác về thành ngữ là đơn vị của ngôn ngữ và văn hóa hay về mặt ngữ âm của thành ngữ. Tác giả Nguyễn Công Đức (1995) đại diện cho khuynh hướng này đã định nghĩa như sau: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh, gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả, bóng bẩy; có hiệu năng trong giao tiếp và là đơn vị ngôn ngữ văn hóa”.
Tác giả Nguyễn Đức Dân (1986) cũng có nhận xét về đặc tính văn hóa dân tộc của thành ngữ: “Thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy nghĩ đặc thù dân tộc, phản ánh khái niệm, hiện tượng”. Ngoài ra còn có quan điểm chú trọng đến mặt sử dụng của thành ngữ: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, thường có vần điệu, được sử dụng rộng rãi trong đời sống hằng ngày, trong đó nghĩa không giải thích đơn giản bằng ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó”. Hoàng Văn Hành (1987) cho rằng: “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là khẩu ngữ”. Nói tóm lại, từ trước đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thành ngữ.
Kế thừa những thành quả nghiên cứu của các học giả đi trước, nghiên cứu chỉ ra quan niệm: Thành ngữ là những ngữ cố định được dùng để định danh cho các sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động; có cấu trúc hình thái ổn định. Thành ngữ có nội dung và hình thức khá hoàn chỉnh. Nghĩa của thành ngữ có tính hình tượng, tính gợi cảm, tính biểu trưng hóa và hàm súc, bóng bẩy. Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ văn hóa, thường có vần điệu, có phong cách khẩu ngữ.
Với những định nghĩa trong tiếng Việt, thì trong tiếng Nhật cũng tồn tại nhiều cụm từ liên quan đến khái niệm này như 故事、成句、熟語…).