CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Các giống vật nuôi là một bộ phận quan trọng của đa dạng sinh học. Nó là tài sản quý giá hiện đang phát huy ý nghĩa kinh tế như là giống thuần thích nghi với điều kiện sinh thái địa phương đồng thời còn là nguyên liệu phục vụ cho công tác lai tạo giống cho hiện tại và tương lai. Không riêng các loài dã thú bị uy hiếp nghiêm trọng do môi trường sống bị thu hẹp và do sự săn bắt của con người, các giống vật nuôi dưới tác động của thiên nhiên và áp lực của kinh tế thị trường cũng đang bị mất dần (Lê Viết Ly, 1999). Nước ta có tập quán nuôi chó thả rông nên sự giao phối giữa các giống thường mang tính ngẫu nhiên.
Kết quả là tạo ra nhiều thế hệ con lai có kiểu hình không đặc trưng, làm mất đi những đặc điểm thuần của giống ban đầu. Song song đó thì những đặc tính quý cũng như các kiểu hình đặc trưng của chó bản địa cũng dần mất đi. Về tên gọi thì người dân thường dựa vào màu sắc của bộ lông để gọi tên như chó mực (nhóm chó có sắc lông màu đen), chó vàng (nhóm chó có sắc lông vàng), chó vá (nhóm chó có lông đen vá trắng hoặc lông trắng vá đen), chó Vện (nhóm chó có lông vằn vện như hổ). Trong đó, chó Vện được xem như là loài vật nuôi có nhiều đặc điểm quý hiếm cần được bảo tồn như màu lông đặc trưng rất được ưa chuộng, khả năng săn mồi tốt, giữ nhà và bảo vệ tài sản, bơi giỏi, dễ nuôi và thích nghi tốt với điều kiện địa phương (Phạm Sỹ Lăng, 2006).
Chó Vện có nhiều đặc tính rất quý nên được tỉnh Cà Mau quan tâm và đưa vào danh mục bảo tồn (Đỗ Võ Anh Khoa và Chung Hữu Nghị, 2018). Microsatellite đã được sử dụng rộng rãi trong kiểm tra huyết thống ở nhiều giống (Koskinen and Bredback, 2000), lập bản đồ gen (Mellersh et al., 2000), phân tích mối quan hệ họ hàng nhằm mục đích chọn giống chó ở nhiều quốc gia (DeNise et al., 2004; Eichmann et al., 2004; Gentilini et al., 2004; Oishi et al. Halverson and Edwards (2000) đã tiến hành kiểm tra huyết thống dưới sự bảo trợ của tổ chức di Di truyền Động vật Quốc tế. Kỹ thuật microsatellite cũng đã được Cho (2005) sử dụng để đánh giá sự đa dạng di truyền của 183 cá thể chó bản địa Hàn Quốc.
Gen 5-Hydroxytryptamine Receptor 1D (HTR1D) ở chó Vện gồm 2.835 cặp nucleotide, mã hóa cho protein gồm 377 axít amin. Gene này đã được chứng minh có liên quan đến đặc tính hung hăng (bao gồm các hành vi phức tạp và mang tính liên tục) ở một số giống chó. Ở một nghiên cứu khác, Våge (2010) đã tìm thấy một SNP khác nghĩa A/G tại vị trí 79091985 bp có tác động tiềm ẩn đối với chức năng của protein HTR1D và hai SNP khác có liên quan chặt chẽ đến tính hung hăng ở chó. Ngoài ra, tính hung hăng còn do tác động của yếu tố môi trường.
Vì vậy, gene HTR1D cần được nghiên cứu thêm để có thể giải thích rõ hơn về tính hung hăng và tự vệ ở chó, đặc biệt là chó nhà (trong đó có chó Vện, một nhóm chó có những đặc tính quý như giữ nhà khôn, săn mồi giỏi, luôn gắn bó với đời sống bình dị của người dân Nam Bộ hàng thập kỷ qua). 1 Đến nay chưa có nhiều nghiên cứu và các nghiên cứu cũng chưa thể hiện đầy đủ về tất các đặc điểm của chó Vện – một quần thể tương đối nhỏ và có nguy cơ bị mất đi nguồn gen quý trong tương lai. Vì vậy, việc nghiên cứu “Một số đặc điểm ngoại hình, tập tính và di truyền của chó Vện” là thực sự cần thiết.2 Mục tiêu của luận án 1.1 Mục tiêu cụ thể (i) Xác định được một số đặc điểm ngoại hình, chiều đo và khối lượng của chó Vện; (ii) Ghi nhận được một số tập tính của chó ở thế hệ xuất phát và thế hệ 1 ở chó Vện; (iii) Ghi nhận được một số đặc điểm sinh sản, sinh trưởng và sinh lý máu ở chó Vện; (iv) Nhận diện và phân tích được đa hình di truyền microsatellite và D-loop ở chó Vện; (v) Nhận diện và phân tích được đa hình di truyền gen HTR1D liên quan đến tính hung hăng ở chó.2 Mục tiêu lâu dài Xác định được một số đặc điểm ngoại hình, tập tính và di truyền của Chó Vện, nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen chó Vện nói riêng và chó bản địa nói chung.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Ý nghĩa khoa học Đóng góp thông tin khoa học có giá trị về đặc điểm giống, trọng tâm là đặc điểm một số ngoại hình, năng suất, tập tính và đa dạng di truyền của chó Vện; Làm cơ sở cho các nghiên cứu khác về chó Vện nói riêng và loài chó nói chung; Là nguồn tài liệu tham khảo cho người học và nghiên cứu về con chó, đặc biệt là có liên quan đến lĩnh vực di truyền phân tử và bảo tồn nguồn gen. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu có giá trị lớn đối với công tác đào tạo các bậc học, chọn lọc và huấn luyện chó nghiệp vụ, cũng như nhân, khai thác và bảo tồn những đặc tính quý của chó Vện.4 Những đóng góp mới của luận án cho khoa học, sản xuất Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ và hệ thống đầu tiên được công bố ở nước ta ghi nhận được đặc điểm sinh học, khả năng sinh trưởng và sinh sản của chó Vện, xác lập được một số tập tính của chó Vện.
Xác định được 14 haplotype thuộc 3 haplgroup khác nhau (A, B, C), trong đó có 1 haplotype mới (Cn) lần đầu tiên được công bố. Nhận diện được 2 đa hình di truyền mới trên gen HTR1D có liên quan đến tính hung hăng trên quần thể chó Vện.5 Nội dung của luận án Nội dung 1. Đánh giá đặc điểm ngoại hình, tập tính, sinh trưởng, sinh sản và sinh lý máu của chó Vện. Đánh giá đa dạng di truyền của chó Vện.
3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về một số giống chó bản địa ở Việt Nam Chó nhà Canis lupus familiaris thuộc bộ ăn thịt Canidae, bộ ăn thịt Carnivora, lớp phụ thú nhau Placentalia, lớp thú Mamamalia. Nghiên cứu cơ bản về họ chó Canidae ở Việt Nam cho thấy có 5 loài, gồm: Sói lửa (Cuon alpines), cáo (Vulpes vulpes), lửng chó (Nyctereutes procyonoides), chó rừng (Canis aureus) và một loài chó nhà (Lê Vũ Khôi, 2003). Chó H’Mông cộc đuôi Chó H’Mông cộc đuôi xuất hiện nhiều ở vùng núi cao của các tỉnh miền núi phía bắc, nơi tập trung nhiều đồng bào H’Mông sinh sống.
Đây là giống chó được người dân chọn và sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày như lên nương, trông nhà, bảo vệ gia súc và săn bắn (Bùi Xuân Phương và ctv. Giống chó này đã được công nhận giống cấp quốc gia theo quyết định số 02/20/9/2009 của VKA Việt Nam (Hiệp hội chó giống Việt Nam), tiêu chuẩn giống số 002 (Nguyễn Tiến Tùng và ctv. Chó H’Mông thường có tầm vóc lớn, chiều cao 55-60 cm, nặng 18-20 kg (Phạm Ngọc Thạch, 2010), tuổi thành thục tính 251,4 ngày, thời gian động dục 15,31 ngày, thời gian mang thai 59,95 ngày, số con sinh ra/ổ 4,41 con, số con sơ sinh sống/ổ 4,22 con, số con cai sữa 4,01 con, khối lượng sơ sinh/con 0,31 kg, khối lượng cai sữa/con là 3,37 kg. Trong thời kỳ động dục, thân nhiệt của chó cái giống H’Mông cộc đuôi tăng từ những ngày đầu tiên của thời gian động dục và đạt cao nhất vào ngày thứ 13-14, sau đó thân nhiệt giảm dần và đạt trạng thái sinh lý vào ngày thứ 20 (Nguyễn Tiến Tùng và ctv.
Thêm vào đó, lứa đẻ có ảnh hưởng đến số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng sơ sinh/con và số con cai sữa/ổ nhưng mùa vụ không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của giống chó H’Mông cộc đuôi (Nguyễn Tiến Tùng và ctv. Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm nhiệt đới Việt Nga trong giai đoạn 2006-2010 đã xác định được 13 dạng chó khác nhau (Bùi Xuân Phương và ctv. Các giống chó có vai trò khác nhau tùy thuộc vào mục đích sử dụng của con người, với kết quả huấn luyện ban đầu cho thấy giống chó H’Mông cộc đuôi là một trong những giống chó bản địa Việt Nam có thể sử dụng làm chó nghiệp vụ (Trần Hữu Côi và ctv. Chó Bắc Hà Chó Bắc Hà là một trong những giống đặc hữu của tỉnh Lào Cai có nhiều đặc tính tốt để có thể huấn luyện làm chó nghiệp vụ.
Chó Bắc Hà được biết đến như một giống chó quý cổ xưa của Việt Nam, chúng được người dân tộc ở vùng núi Tây Bắc (huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai) nuôi sử dụng trong việc hỗ trợ săn bắt và bảo vệ, trông nhà. Với đặc điểm hình dáng kích thước trung bình, bộ lông xù đặc trưng giúp chúng thích nghi với thời tiết giá lạnh vùng núi cao Tây Bắc. Phần lông ở cổ và đuôi tạo thành bờm to rất đẹp, với đặc điểm này nhìn chúng rất uy nghi và bệ vệ cộng với tính cách trầm tĩnh, độc 4 lập, ý thức lãnh thổ cao và trung thành nên chúng được nuôi để bảo vệ và trông nhà rất tốt (Hiệp hội chó giống Việt Nam). Chó Bắc Hà có lượng hồng cầu là 7,8166 triệu/mm3, lượng bạch cầu là 10,993 nghìn/mm3, hàm lượng hemoglobin là 16,347% (số lượng hồng cầu của chó đực là 7,967 triệu/mm3 và của chó cái là 7,660 triệu/mm3).
Chó Bắc Hà có hoạt độ enzym GOT là 62,51U/L, hoạt độ enzym GPT là 34,66 U/L (Nguyễn Văn Bộ và ctv. Chó Phú Quốc Chó Phú Quốc (hay chó lưng xoáy Phú Quốc) là một trong những nòi chó quý của Việt Nam, sở hữu nhiều đặc tính quý như thông minh, trung thành, sức khỏe tốt, giỏi nuôi con, thân thiện với con người. Dù đã được người dân trên đảo Phú Quốc nuôi từ lâu nhưng chúng vẫn còn giữ nhiều nét hoang dã của một loài chó săn mồi (Thái Kế Quân và ctv., 2016; Trần Hoàng Dũng và ctv., 2016; Nguyễn Văn Biện và ctv. Cùng với khả năng nhảy cao, giữ thăng bằng tốt và bơi lội giỏi, chó lưng xoáy Phú Quốc không chỉ được nuôi để canh giữ nhà mà còn được huấn luyện để đi săn cũng như gắn liền với mọi sinh hoạt đời thường của người dân trên đảo (Thái Kế Quân và ctv.
Ngoại hình tổng quát của chó Phú Quốc là thân thon gọn, có lông ngắn, đuôi cong và có xoáy trên lưng. Màu lông rất đa dạng với 5 màu chính: đen, vàng, nâu, vện và xám.