Tổng quan luận án

Tổn thương mất chất mô cứng ở răng cối lớn sau điều trị tủy do bệnh lý sâu răng hoặc sang chấn là tình trạng phổ biến trong thực hành nha khoa. Quá trình tạo xoang mở tủy và làm sạch hệ thống ống tủy làm mất một lượng lớn cấu trúc men và ngà răng, dẫn đến sự suy giảm đáng kể khả năng chịu lực cơ học của thân răng (sức chịu đựng của răng có thể giảm từ 60% đến 70%). Để bảo tồn răng thật và khôi phục chức năng, việc tái tạo thân răng là thủ thuật tiền phục hồi thiết yếu. Đặt chốt nội tủy kết hợp vật liệu trám composite giúp gia tăng lưu giữ cho khối phục hồi. Tuy nhiên, việc lựa chọn giữa chốt kim loại vặn truyền thống và chốt sợi tạo dạng theo ống tủy cá nhân vẫn còn nhiều quan điểm lâm sàng khác nhau về độ bền sinh cơ học, độ khít sát và nguy cơ tổn hại mô răng. Luận án chuyên khoa cấp II (mã số 62.CK) chuyên ngành Răng Hàm Mặt của tác giả Nguyễn Thụy Bảo Trân, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Phương Đan tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm:

  1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, X-quang ở bệnh nhân có răng cối sâu vỡ lớn đã được điều trị tủy, trước và sau tái tạo bằng chốt tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ năm 2017 đến năm 2018.
  2. Đánh giá kết quả điều trị tái tạo thân răng cối sâu vỡ lớn bằng chốt sợi và chốt kim loại vặn tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ sau điều trị 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng.

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân từ 15 tuổi trở lên có răng cối lớn sâu vỡ lớn đã được điều trị nội nha đạt yêu cầu kỹ thuật. Phạm vi không gian được thực hiện tại Phòng khám khoa Răng Hàm Mặt thuộc Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ; phạm vi thời gian nghiên cứu diễn ra từ năm 2017 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nền tảng giải phẫu học, sinh bệnh học và vật liệu nha khoa liên quan đến phục hồi răng sau chữa tủy:

  • Giải phẫu răng và khớp cắn: Tác giả sử dụng tài liệu của Hoàng Tử Hùng (2012) và Kenneth M. Hargreaves (2011) trong Cohen’s Pathways of the Pulp để mô tả chi tiết giải phẫu mặt nhai, hệ thống múi tựa (múi trong hàm trên, múi ngoài hàm dưới) và múi hướng dẫn (múi ngoài hàm trên, múi trong hàm dưới), cấu trúc buồng tủy và số lượng chân/ống tủy của các răng cối lớn vĩnh viễn ($R_{16}, R_{17}, R_{36}, R_{37}$).
  • Bệnh sinh sâu răng và phân loại tổn thương: Dẫn xuất thuyết hóa học vi khuẩn của Miller (1882), sơ đồ Keyes cải tiến trong tài liệu của Trịnh Thái Hà (2014); các thang phân loại lỗ sâu của G.V. Black, bảng phân loại theo vị trí và kích thước (Mount & Hume, Bảng 1.1), phân loại theo Pitt, phân loại 4 độ của Lubetzki, phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cùng các tiêu chuẩn chẩn đoán của Machiulskienne và cộng sự (1998), Ekstrand và cộng sự (1998), Axelsson (2000).
  • Đặc tính cơ học của mô răng và chốt nội tủy: Mô men răng có mô đun đàn hồi 85 GPa, ngà răng là 20 GPa. Sau điều trị tủy, mô cứng mất nước làm giảm 20% tính sinh cơ học, việc tạo xoang mặt nhai làm giảm 20% sức chịu lực, xoang gần - xa giảm >50%, dẫn đến tổng mức suy giảm độ bền từ 60% đến 70%. Hệ số mô đun đàn hồi của các loại chốt gồm: chốt kim loại chrom - niken (230 GPa), titan (110 GPa), vàng (95 GPa), sợi Carbon (90 GPa), trong khi chốt sợi thủy tinh đạt 764 MPa (tương đương 0,764 GPa), có độ uốn dẻo và đàn hồi gần với ngà răng tự nhiên.
  • Các công trình nghiên cứu tiền nhiệm:
    • Nghiên cứu quốc tế của Gbadebo OS, Ajayi DM, Oyekunle OO, Shaba PO (2014) trên 40 răng đã điều trị tủy (gồm răng cửa giữa, răng cửa bên, răng tiền cối và răng cối), so sánh chốt sợi thủy tinh và chốt thép không gỉ sau 1 và 6 tháng, ghi nhận tỷ lệ thành công ở nhóm chốt kim loại là 97,5% và nhóm chốt sợi là 100%.
    • Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên của Skupien JA, Cenci MS, Opdam NJ, Kreulen CM, Huysmans MC, Pereira-Cenci T (2016) trên 47 bệnh nhân với 57 phục hồi (30 trám composite và 27 mão toàn diện), theo dõi 1 đến 5 năm, ghi nhận tỷ lệ thất bại sau 50 tháng là 1,83% đối với trám tái tạo composite và 0,26% đối với mão toàn diện.
    • Ứng dụng trong nước của Khoa Răng - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (2014) về hệ thống chốt sợi X-post trong tái tạo cùi răng làm nền cho phục hình sứ.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là so sánh trực tiếp hiệu quả lâm sàng và hình ảnh X-quang giữa kỹ thuật trám tái tạo composite sử dụng chốt kim loại vặn và chốt sợi thủy tinh tạo dạng theo ống tủy cá nhân trên nhóm răng cối lớn sâu vỡ lớn qua các mốc thời gian 3, 6 và 9 tháng tại khu vực Cần Thơ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp can thiệp lâm sàng so sánh trên hai nhóm đối tượng. Tổng cộng có 80 răng cối lớn sâu vỡ lớn trên 77 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn mẫu:

  • Bệnh nhân từ 15 tuổi trở lên.
  • Răng cối lớn đã điều trị nội nha đạt tiêu chuẩn (chất bít ống tủy kín khít theo ba chiều không gian, cách chóp 0 - 0,5 mm).
  • Thân răng còn lại ít nhất 3 thành mô cứng, chiều cao mỗi thành tối thiểu 1 mm tính từ bờ viền nướu dính.
  • Vùng quanh chóp không có tổn thương, không có bệnh lý nha chu tiến triển, không nội tiêu hoặc ngoại tiêu.
  • Răng đối diện là răng thật hoặc phục hình cố định.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có tật nghiến răng.

Quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng sự khác biệt giữa hai tỷ lệ: $$n = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \left[ P_1(1 - P_1) + P_2(1 - P_2) \right]}{d^2}$$ Dựa trên tỷ lệ thành công từ nghiên cứu của Gbadebo và cs (2014) với $P_1 = 0,975$ (nhóm chốt kim loại) và $P_2 = 1,0$ (nhóm chốt sợi), độ tin cậy 95% ($Z = 1,96$) và sai số biên $d = 0,05$, cỡ mẫu tính toán là $n \approx 37,45$ răng cho mỗi nhóm. Tác giả chọn 40 răng cho mỗi nhánh điều trị, tổng số là 80 răng:

  • Nhóm A (40 răng): Trám tái tạo bằng chốt kim loại vặn kết hợp composite.
  • Nhóm B (40 răng): Trám tái tạo bằng chốt sợi thủy tinh tạo dạng theo ống tủy kết hợp composite.

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện đủ 80 răng (mỗi bệnh nhân không quá 2 răng), sau đó phân bổ ngẫu nhiên xen kẽ vào từng nhóm (mẫu số lẻ nhận chốt kim loại vặn, mẫu số chẵn nhận chốt sợi).

Quy trình kỹ thuật can thiệp

Quy trình trám tái tạo được chuẩn hóa theo từng bước:

  1. Cách ly: Đặt đê cao su, làm sạch chất trám tạm và mô ngà mủn.
  2. Sửa soạn ống mang chốt: Chân trong đối với răng cối lớn trên, chân xa đối với răng cối lớn dưới.
    • Nhóm A: Lấy cone gutta-percha bằng mũi Gates Glidden; định hình ống mang chốt bằng mũi Peeso Reamers tốc độ chậm; bơm rửa, làm khô; đưa xi măng gắn vào ống tủy bằng dụng cụ xoay chậm; vặn chốt kim loại theo chiều kim đồng hồ, chốt nhô trên miệng ống tủy 1 - 1,5 mm; chờ xi măng đông và làm sạch chất gắn dư.
    • Nhóm B: Lấy cone bằng dụng cụ cắt cone và cây lèn nhiệt nhằm bảo tồn mô ngà; xoi mòn ống mang chốt bằng acid phosphoric 37% trong 5 - 7 giây, rửa sạch, lau khô; ướm và cắt tỉa sợi thủy tinh (nhô cao 1,5 - 2 mm trên miệng ống); chèn các nhánh sợi phụ đã thấm nhựa dimethacrylate-polymethylmethacrylate, quang trùng hợp từng bước 20 giây; rút khối chốt ra chiếu đèn tăng cường 40 giây; quét primer nhựa; bơm xi măng hạt độn nhựa vào lòng ống, đặt chốt cố định.
  3. Tái tạo thân răng: Đặt khuôn trám, soi mòn men ngà 5 - 7 giây, quét keo dán (quang trùng hợp 7 - 10 giây); đắp composite từng lớp theo kỹ thuật tăng dần (chiếu đèn 5 giây mỗi lớp, 20 giây lớp cuối); tháo khuôn, chiếu đèn bổ sung 20 giây; chỉnh cắn và đánh bóng hoàn thiện.

Chỉ số lâm sàng, tiêu chuẩn đánh giá và xử lý số liệu

  • Chỉ số viêm nướu (GI - Gingival Index theo Löe, 1967): Điểm 0 (nướu bình thường), Điểm 1 (viêm nhẹ, đổi màu, không chảy máu khi thăm khám), Điểm 2 (viêm trung bình, đỏ phù, chảy máu khi thăm khám), Điểm 3 (viêm nặng, lở loét, chảy máu tự phát).
  • Chỉ số mất bám dính lâm sàng (CAL): Mất bám dính nhẹ (1 - 2 mm), trung bình (3 - 4 mm), nặng (> 5 mm).
  • Đánh giá X-quang quanh chóp: Hình dạng chân răng (cong/thẳng), tỷ lệ chiều dài thân/chân răng (dài 1/2, trung bình 2/3, ngắn 1/1), chiều dài chốt ($< 2/3$, $= 2/3$, $> 2/3$ chiều dài chân răng), chiều trục của chốt (trùng hoặc lệch so với trục ống tủy bít cone), tính toàn vẹn (không có nứt gãy chốt hoặc chân răng).
  • Phân mức kết quả điều trị:
    • Đạt: Không viêm nướu, không mất bám dính, miếng trám khít sát lâm sàng và X-quang, ăn nhai bình thường, không giắt thức ăn, chốt đúng trục và đạt độ dài tiêu chuẩn ($= 2/3$ chân răng), không nứt gãy.
    • Chấp nhận được (theo dõi): Miếng trám kém khít sát trên phim, chiều dài chốt $< 2/3$ hoặc $> 2/3$, chốt lệch trục nhẹ nhưng nằm trọn trong chân răng, không có nứt gãy.
    • Thất bại cần thực hiện lại: Giắt thức ăn thường xuyên, vỡ mẻ một phần hoặc mất toàn bộ miếng trám, mô ngà còn lại bị vỡ nhưng chốt và chân răng nguyên vẹn.
    • Thất bại cần nhổ răng: Nứt gãy chốt kèm nứt gãy dọc chân răng.

Dữ liệu do một bác sĩ Răng Hàm Mặt có trên 5 năm kinh nghiệm chuyên môn đánh giá độc lập (đã kiểm định độ thống nhất trên 5 mẫu thử ban đầu cho mỗi phương pháp). Nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện tối thiểu 70% số ca lâm sàng. Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0, sử dụng kiểm định Fisher’s Exact và Likelihood Ratio.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở lý thuyết về:

  • Giải phẫu hình thái học thân răng, múi răng, hệ thống trũng rãnh và trục chân răng của các răng cối lớn vĩnh viễn hàm trên ($R_{16}, R_{17}$) và hàm dưới ($R_{36}, R_{37}$).
  • Cơ chế sinh bệnh sâu răng theo tương tác 4 yếu tố (vi khuẩn mảng bám, carbohydrate, ký chủ/nước bọt, thời gian), các hệ thống phân loại tổn thương sâu răng từ kinh điển (Black, Lubetzki, WHO) đến hiện đại (Mount & Hume theo vị trí và kích thước, thang điểm Pitt).
  • Đặc tính cơ sinh học của răng sau chữa tủy, giải thích nguyên nhân làm giảm sức chịu lực (mất cấu trúc ngà trần buồng tủy, mất nước, tổn thương gờ bên).
  • Phân loại các hệ thống chốt nội tủy (chốt kim loại đúc sẵn, chốt sợi thủy tinh đúc sẵn, chốt sợi tạo dạng cá nhân hóa) và tương quan mô đun đàn hồi đối với sự phân bố ứng suất lực nhai lên chân răng.
Loại vật liệu / Cấu trúc Mô đun đàn hồi
Men răng tự nhiên 85 GPa
Ngà răng tự nhiên 20 GPa
Chốt sợi thủy tinh 0,764 GPa (764 MPa)
Chốt sợi Carbon 90 GPa
Chốt hợp kim vàng 95 GPa
Chốt hợp kim Titan 110 GPa
Chốt kim loại Chrom - Niken 230 GPa

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thiết kế can thiệp lâm sàng có đối chứng ngẫu nhiên trên 80 răng cối lớn (40 răng nhóm chốt kim loại vặn, 40 răng nhóm chốt sợi tạo dạng) tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ giai đoạn 2017 - 2018. Chương này cụ thể hóa các tiêu chuẩn tuyển chọn bệnh nhân, công thức tính toán cỡ mẫu ($n = 37,45 \rightarrow 40$ răng/nhóm), các bước tiến hành chuẩn bị ống tủy, kỹ thuật đặt chốt, thao tác trám composite từng lớp, các bảng tiêu chí đánh giá lâm sàng (GI, CAL, khít sát bờ, thẩm mỹ, cắn khớp) và tiêu chí X-quang quanh chóp. Đồng thời mô tả phương pháp kiểm soát sai số qua đánh giá viên độc lập có kinh nghiệm $> 5$ năm, công cụ phân tích thống kê SPSS 22 và quy chuẩn y đức bảo vệ quyền lợi đối tượng nghiên cứu.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các bảng số liệu và biểu đồ ghi nhận từ nghiên cứu:

  • Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu: Phân bố theo các nhóm tuổi (15 - 25, 26 - 35, 36 - 45, $> 45$ tuổi), giới tính (nam, nữ), nhóm nghề nghiệp (lao động trí óc, lao động phổ thông).
  • Đặc điểm lâm sàng và X-quang trước điều trị ($T_0$): Phân bố vị trí răng theo cung hàm/phân hàm ($R_{16}, R_{17}, R_{26}, R_{27}, R_{36}, R_{37}, R_{46}, R_{47}$); tình trạng mô răng còn lại (số thành răng còn 3 thành hoặc 4 thành; chiều cao thành răng $=1$ mm, $>1-2$ mm, $>2$ mm); chỉ số viêm nướu GI ban đầu; chỉ số mất bám dính CAL ban đầu; hình dạng chân răng mang chốt (chân cong, chân thẳng) và tỷ lệ thân/chân răng trên X-quang.
  • Đặc điểm ngay sau tái tạo ($T_1$): Đánh giá sự khít sát miếng trám tại mặt nhai, bờ nướu và mặt bên; tính thẩm mỹ; chức năng cắn khớp; độ khít sát và chiều dài, chiều trục của chốt trên phim X-quang quanh chóp. So sánh chỉ số GI và CAL trước và ngay sau tái tạo.
  • Đánh giá theo dõi dọc tại 3 tháng ($T_2$), 6 tháng ($T_3$) và 9 tháng ($T_4$):
    • Tình trạng mô nha chu quanh răng tái tạo (chỉ số GI, CAL).
    • Độ khít sát của miếng trám tại các vị trí tiếp xúc.
    • Thẩm mỹ và chức năng ăn nhai, mức độ giắt thức ăn.
    • Độ bền của miếng trám và mô răng (ghi nhận các trường hợp sứt mẻ miếng trám hoặc vỡ mô răng).
    • Tình trạng chốt và chân răng trên phim X-quang (vị trí chốt, sự xuất hiện thấu quang, hiện tượng nứt gãy chốt hoặc chân răng).
    • So sánh chi tiết các yếu tố thẩm mỹ, tiếp xúc khớp, tiếp xúc bên và độ khít sát trên phim X-quang giữa thời điểm ngay sau trám ($T_1$) và tái khám 9 tháng ($T_4$) trên 77 răng hoàn thành theo dõi.

Chương 4. Bàn luận

Chương Bàn luận tập trung biện giải các kết quả quan sát được:

  • Đặc điểm giải phẫu và hình thái học của răng nghiên cứu: Thảo luận về tương quan giữa số thành răng còn lại, chiều cao thành răng với khả năng nâng đỡ khối phục hồi; ảnh hưởng của hình thái chân răng (chân cong so với chân thẳng) đối với nguy cơ thủng chân răng hoặc lệch trục khi khoan đặt chốt.
  • Đặc điểm lâm sàng và X-quang ngay sau can thiệp: So sánh mức độ ôm sát và lưu giữ của chốt kim loại vặn so với chốt sợi tạo dạng cá nhân hóa; phân tích sự thay đổi cấp tính của mô nướu viền sau quá trình cách ly bằng đê cao su và đặt khuôn trám.
  • Hiệu quả điều trị sau 3, 6 và 9 tháng: Phân tích cơ chế suy giảm độ khít sát, nguy cơ hở bờ phục hồi hoặc nhồi nhét thức ăn; giải thích các trường hợp vỡ miếng trám hoặc nứt mô răng liên quan đến sự tập trung ứng suất cơ học ở chốt kim loại cứng so với tính đàn hồi truyền lực đồng đều của chốt sợi thủy tinh; phân tích hình ảnh cản quang của chốt sợi tương đồng với mô ngà răng tự nhiên trên phim X-quang.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả chính

  • Xác lập được đặc điểm lâm sàng và X-quang của răng cối lớn sâu vỡ lớn sau điều trị tủy tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, phần lớn có tổn thương mất từ 1 đến 2 thành răng nhưng vẫn bảo tồn được tối thiểu 3 thành với chiều cao $\ge 1$ mm.
  • Cả hai phương pháp đặt chốt kim loại vặn và chốt sợi thủy tinh kết hợp trám composite đều mang lại tỷ lệ thành công lâm sàng cao ngay sau can thiệp về độ khít sát, thẩm mỹ và khôi phục chức năng cắn khớp.
  • Qua theo dõi định kỳ tại các thời điểm 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng (ghi nhận trên 77 răng tái khám ở mốc 9 tháng):
    • Nhóm sử dụng chốt sợi tạo dạng theo ống tủy cá nhân duy trì sự tương thích sinh học tốt với mô nha chu, độ cản quang trên X-quang tương đương mô ngà răng, giảm thiểu nguy cơ nứt vỡ chân răng nhờ mô đun đàn hồi thấp ($0,764$ GPa).
    • Nhóm chốt kim loại vặn ghi nhận một số biến cố lệch trục nhẹ hoặc vỡ bờ miếng trám/mô răng ở các giai đoạn theo dõi sau 6 tháng do sự tập trung ứng suất không đồng đều.

Đóng góp mới và kiến nghị

  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp quy trình lâm sàng chuẩn hóa trong việc tạo dạng chốt sợi thủy tinh cá nhân hóa trực tiếp trong ống tủy cho răng cối lớn nhiều chân, chứng minh tính khả thi và hiệu quả của phương pháp này trong việc bảo tồn mô răng so với chốt kim loại vặn.
  • Kiến nghị thực hành:
    • Chỉ định đặt chốt tái tạo composite cho các răng cối lớn sâu vỡ lớn khi mô răng còn lại ít nhất 3 thành với chiều cao $\ge 1$ mm.
    • Ưu tiên lựa chọn chốt sợi tạo dạng cá nhân hóa cho các ống tủy có hình thái phức tạp, chân răng cong hoặc ống tủy rộng để tăng diện tích tiếp xúc dán dính và giảm độ dày lớp xi măng gắn.
    • Tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật dán dính, cách ly đê cao su và đắp composite từng lớp để kiểm soát co ngót trùng hợp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian theo dõi dọc của nghiên cứu dừng lại ở mốc 9 tháng, chưa đánh giá được độ bền mỏi sinh cơ học và tỷ lệ sống còn lâu dài của khối trám tái tạo sau 3 đến 5 năm; cỡ mẫu nghiên cứu dừng lại ở 80 răng tại một trung tâm thực hành lâm sàng đơn lẻ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành các thử nghiệm can thiệp theo dõi dài hạn (từ 3 đến 5 năm) với quy mô mẫu lớn hơn tại nhiều cơ sở y tế; mở rộng so sánh hiệu quả giữa trám composite đặt chốt sợi với các giải pháp phục hồi gián tiếp như Inlay, Onlay sứ hoặc mão răng toàn diện trên răng cối mất chất lớn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Bác sĩ Răng Hàm Mặt và học viên chuyên khoa: Cung cấp hướng dẫn kỹ thuật chi tiết từng bước từ sửa soạn ống mang chốt (lấy chất bít tủy bằng dụng cụ nhiệt, Peeso Reamers), kỹ thuật cá nhân hóa chốt sợi bằng quang trùng hợp, đến quy trình đắp phục hồi composite từng lớp.
  • Cơ sở đào tạo và giảng viên chuyên ngành Nha khoa bảo tồn - Nội nha: Cung cấp khung phân tích so sánh sinh cơ học giữa các loại vật liệu chốt và hệ thống tiêu chí đánh giá lâm sàng chuẩn hóa (GI, CAL, tiêu chuẩn khít sát bờ, tiêu chí X-quang).

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn chọn mẫu răng cối lớn để trám tái tạo bằng chốt trong luận án là gì? Răng cối lớn của bệnh nhân $\ge 15$ tuổi, đã được điều trị nội nha đạt chuẩn (hệ thống ống tủy bít kín khít cách chóp 0 - 0,5 mm), thân răng còn lại tối thiểu 3 thành mô cứng với chiều cao mỗi thành $\ge 1$ mm tính từ bờ viền nướu dính, không có bệnh lý quanh chóp hay nha chu tiến triển, răng đối diện là răng thật hoặc phục hình cố định, và bệnh nhân không có tật nghiến răng.

2. Công thức tính cỡ mẫu và số lượng mẫu thực tế trong nghiên cứu là bao nhiêu? Nghiên cứu sử dụng công thức tính cỡ mẫu so sánh hai tỷ lệ với độ tin cậy 95% ($Z = 1,96$), sai số biên $d = 0,05$, dựa trên tỷ lệ thành công của Gbadebo và cs (2014) ($P_1 = 0,975; P_2 = 1,0$), cho ra cỡ mẫu lý thuyết $n \approx 37,45$. Nghiên cứu đã chọn 40 răng cho mỗi phương pháp, tổng cộng 80 răng trên 77 bệnh nhân (mỗi bệnh nhân không quá 2 răng).

3. Tại sao chốt sợi thủy tinh lại có ưu thế về sinh cơ học so với chốt kim loại? Chốt sợi thủy tinh có mô đun đàn hồi đạt $764$ MPa ($0,764$ GPa), gần tương đồng với ngà răng tự nhiên ($20$ GPa) hơn rất nhiều so với các loại chốt kim loại (chốt thép/chrom - niken là $230$ GPa, titan là $110$ GPa). Nhờ đó, chốt sợi giúp phân bố ứng suất lực nhai đồng đều dọc theo chân răng, hạn chế tập trung lực tại chóp chốt, giảm thiểu tối đa nguy cơ nứt dọc chân răng.

4. Kỹ thuật tạo dạng chốt sợi cá nhân hóa trong lòng ống tủy được thực hiện như thế nào? Sau khi làm sạch chất bít tủy bằng dụng cụ nhiệt và xoi mòn ống mang chốt, cây chốt sợi chính được đặt vào lòng ống cùng với các mảnh chốt sợi phụ đã quét nhựa dimethacrylate-polymethylmethacrylate để lèn kín khoảng trống hình thể ống tủy. Khối sợi được chiếu đèn quang trùng hợp trực tiếp trong ống tủy 20 giây để định hình, sau đó rút ra chiếu đèn tăng cường 40 giây trước khi được gắn cố định bằng xi măng nhựa có hạt độn.

5. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị mức "Thất bại cần nhổ răng" gồm những yếu tố nào? Theo Bảng 2.6 của luận án, trường hợp điều trị bị phân loại là thất bại cần nhổ khi xảy ra biến cố vỡ toàn bộ mô răng - miếng trám kết hợp với có sự nứt gãy chốt nội tủy và nứt gãy dọc chân răng trên lâm sàng hoặc X-quang.

Kết luận

Luận án Chuyên khoa II của tác giả Nguyễn Thụy Bảo Trân đã thực hiện đánh giá can thiệp lâm sàng có đối chứng giữa hai kỹ thuật phục hồi răng cối lớn sâu vỡ lớn bằng chốt kim loại vặn và chốt sợi tạo dạng cá nhân hóa kết hợp trám composite trên 80 răng tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ giai đoạn 2017 - 2018. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả của phương pháp tái tạo thân răng bằng chốt trong việc khôi phục hình thái giải phẫu, thẩm mỹ và chức năng ăn nhai. Trong đó, chốt sợi tạo dạng theo ống tủy cá nhân thể hiện sự tương thích cơ sinh học vượt trội, bảo tồn mô răng tốt và giảm thiểu nguy cơ tai biến nứt vỡ chân răng trong thời gian theo dõi 9 tháng. Công trình cung cấp quy trình thực hành lâm sàng chuẩn xác, đóng góp dữ liệu thực nghiệm quan trọng cho chuyên ngành Nha khoa phục hồi và Điều trị nội nha tại Việt Nam.