Tổng quan luận án

Tình trạng răng khôn hàm dưới (răng cối lớn thứ ba hàm dưới) lệch, ngầm là một bệnh lý phổ biến trong chuyên ngành Răng Hàm Mặt. Răng khôn là răng mọc muộn nhất trên cung hàm trong độ tuổi từ 18 đến 25, nằm ở vị trí chuyển tiếp tại vùng góc hàm chật hẹp. Do sự bất tương xứng giữa kích thước cung răng và chiều dài xương hàm dưới, mầm răng khôn thường thiếu khoảng mọc, dẫn đến các bất thường về hướng mọc và vị trí. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, răng khôn lệch, ngầm gây ra nhiều biến chứng phức tạp như viêm quanh thân răng, viêm mô tế bào, sâu mặt xa răng cối lớn thứ hai (răng 7), tiêu xương ổ răng kế cận, nang thân răng, hoặc gây xáo trộn khớp cắn và chen chúc vùng răng cửa.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả Võ Thị Ngọc Hà xác định xuất phát từ thực tiễn lâm sàng: các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam thường chỉ dừng lại ở khảo sát riêng lẻ đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang hoặc tập trung đơn thuần vào một kỹ thuật phẫu thuật, thiếu các nghiên cứu mô tả toàn diện kết hợp phân loại hình thái, đánh giá độ khó và tổng kết kết quả can thiệp phẫu thuật theo quy trình chuẩn tại tuyến y tế tỉnh. Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang, bệnh nhân có biến chứng do răng khôn lệch, ngầm chiếm tỷ lệ từ 20% đến 25% tổng số phẫu thuật tại Khoa Răng Hàm Mặt, nhưng đa số đến khám muộn khi đã xảy ra tổn thương cấu trúc nha chu không hồi phục. Do đó, đề tài "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, X quang và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân có răng khôn hàm dưới lệch, ngầm bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang năm 2017 - 2018" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng phục vụ chuẩn hóa điều trị tại địa phương.

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang của răng khôn hàm dưới lệch, ngầm tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang năm 2017 - 2018.
  2. Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân có răng khôn hàm dưới lệch, ngầm bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang năm 2017 - 2018.
  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định có răng khôn hàm dưới lệch, ngầm đã hoặc đang gây biến chứng, có chỉ định phẫu thuật nhổ răng.
  • Phạm vi không gian: Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu từ ngày 01/05/2017 đến ngày 01/08/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan luận án hệ thống hóa các nền tảng phôi thai học, giải phẫu học và bệnh sinh học liên quan đến răng khôn hàm dưới:

  • Cơ chế phát triển và nguyên nhân mọc lệch, ngầm: Mầm răng khôn có chung thừng liên bào với mầm răng cối lớn thứ nhất và thứ hai. Quá trình dịch chuyển của các răng cối kéo mầm răng khôn lệch về phía gần. Theo Peterson (2004), mầm răng khôn xuất hiện từ 9 tuổi và hoàn tất mọc đến 24 tuổi; trong thời gian này răng thực hiện chuyển động xoay từ tư thế nằm ngang sang thẳng đứng. Sự thiếu hụt chiều dài cung hàm là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại trong chuyển động xoay này. Peker và cộng sự (2014) cũng khẳng định sự thu hẹp khoảng trống cung hàm là yếu tố trực tiếp cản trở răng khôn mọc thẳng.
  • Mối liên quan giải phẫu quan trọng: Khoảng mọc răng khôn được xác định từ mặt xa răng 7 đến bờ trước ngành lên xương hàm dưới. Kênh răng dưới (chứa bó mạch và thần kinh huyệt răng dưới) đi từ gai Spix qua xương xốp và nằm ngay dưới chóp chân răng khôn. Thần kinh lưỡi đi sát mặt trong cành ngang và bờ trên bản trong xương ổ răng khôn, dễ bị tổn thương nếu thao tác thô bạo làm vỡ bản xương trong.
  • Các hệ thống phân loại chuẩn:
    • Phân loại Pell-Gregory theo chiều ngang (tương quan khoảng rộng giữa mặt xa răng 7 và bờ trước ngành lên: Loại I, II, III) và theo chiều đứng (độ sâu thân răng so với mặt nhai răng 7: Vị trí A, B, C).
    • Phân loại Winter dựa trên trục răng (thẳng ngầm, lệch gần, lệch xa, lệch ngoài, lệch trong, nằm ngang, lộn ngược).
    • Phân loại kỹ thuật phẫu thuật Parant (gồm 4 loại can thiệp từ mở xương đơn thuần đến chia cắt phức tạp thân và chân răng).

Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu dịch tễ và điều trị trong nước và quốc tế:

  • Nghiên cứu quốc tế: Francois Blondeau và Nach G. Daniel (2007) khảo sát 327 bệnh nhân (550 răng khôn) ghi nhận tỷ lệ biến chứng phẫu thuật 6,9% (20 ca viêm ổ răng khô, 12 ca nhiễm trùng, 6 ca dị cảm thần kinh). Amin Rahpeyma và cộng sự (2015) trên 3.026 bệnh nhân tại Mexico ghi nhận vị trí A chiếm 45,9%, loại I chiếm 49,7%, trục lệch gần chiếm 36,1% và tỷ lệ nhổ dự phòng là 86,36%. Hira Ayaz và cộng sự (2012) tại Pakistan nghiên cứu 105 bệnh nhân ghi nhận tỷ lệ biến chứng chung 34,3% (khít hàm 30,5%, viêm ổ răng 15,9%, dị cảm 1,9%). Naveed Ahmaad Khawaja (2014) tại Libya ghi nhận tỷ lệ răng mọc lệch ngầm ở sinh viên là 20%, trong đó vị trí A chiếm 43%. Vusumuzi Ndumiso Tsabedze và cộng sự (2012) ghi nhận trục lệch gần chiếm 51,9%, lệch xa 18,4%, mọc thẳng 15,5%, mọc ngang 13,5%.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Phạm Xuân Sáng (1993) khảo sát 437 răng ghi nhận lệch gần chiếm 62,8%, lệch xa 9,7%, mọc thẳng 2,5%. Các nghiên cứu của Lê Nguyên Lâm và Lê Thị Lợi (2002), Phan Thành Tường (2006), Lê Nguyên Bá (2011) ghi nhận nhóm tuổi gặp biến chứng cao nhất là 25–35 tuổi (chiếm từ 53,66% đến 78,22%), trục lệch gần chiếm đa số (54%–68%). Hoàng Việt Hải (2016) trên 126 bệnh nhân ghi nhận trục lệch gần chiếm 64,29%, thời gian phẫu thuật dưới 30 phút chiếm 73,02%, kết quả phẫu thuật tốt đạt 88,89%.

Vị trí của luận án là nghiên cứu can thiệp lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang, ứng dụng đồng bộ quy trình từ chẩn đoán X-quang, lượng giá độ khó theo thang điểm thực hành, kỹ thuật phẫu thuật mở xương chia thân chân răng và theo dõi dọc sau mổ để đánh giá kết quả lành thương và biến chứng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung phân loại và lượng giá độ khó

Luận án sử dụng bảng đánh giá độ khó của phẫu thuật răng khôn hàm dưới lệch, ngầm theo đề nghị của Mai Đình Hưng và cộng sự (1995), Bộ môn Phẫu thuật Miệng, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh:

Tiêu chuẩn đánh giá Phân loại chi tiết Điểm
1. Khoảng rộng xương (Pell-Gregory ngang) Loại I: Khoảng rộng lớn hơn thân răng khôn 1
Loại II: Khoảng rộng nhỏ hơn thân răng khôn 2
Loại III: Răng khôn ngầm hoàn toàn trong cành đứng 3
2. Vị trí độ sâu (Pell-Gregory đứng) Vị trí A: Điểm cao nhất ở trên hoặc ngang mặt nhai răng 7 1 - 2
Vị trí B: Điểm cao nhất nằm giữa mặt nhai và cổ răng 7 3
Vị trí C: Điểm cao nhất nằm dưới đường cổ răng 7 4
3. Trục răng khôn (Winter) Trục thẳng hơi lệch gần 1
Trục ngang, lệch ngoài/trong, xa góc hàm 2
Trục thẳng nhưng nằm thấp (Vị trí B) 3
Trục lệch xa (thấp hơn vị trí B và C) 4
4. Số lượng và hình dạng chân răng Chân chụm, xuôi chiều bẩy, thon 1
Hai chân dạng xuôi chiều bẩy 2
Ba chân dạng xuôi chiều, nhiều chân chụm ngược chiều, một chân dùi trống 3
Hai hoặc nhiều chân dạng đa hướng, dang rộng hơn cổ và thân răng 4

Tổng điểm độ khó: Độ I (Ít khó nhổ): 1–5 điểm; Độ II (Khó nhổ trung bình): 6–10 điểm; Độ III (Rất khó nhổ): 11–15 điểm.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp lâm sàng không đối chứng.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong nghiên cứu cắt ngang: $$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \frac{p(1-p)}{c^2}$$ Với độ tin cậy 95% ($Z = 1,96$), sai số cho phép $c = 0,05$, tỷ lệ kết quả phẫu thuật tốt $p = 0,95$ (dựa trên nghiên cứu của Lê Nguyên Bá năm 2011), cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là $n \approx 74$. Luận án thu thập thực tế $n = 75$ bệnh nhân.
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện liên tục toàn bộ bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu đến khám và điều trị tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu.
  • Tiêu chuẩn chọn vào: Bệnh nhân có răng khôn hàm dưới lệch, ngầm đã hoặc đang gây biến chứng lâm sàng và hình ảnh X-quang, có chỉ định phẫu thuật nhổ răng.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân mất khả năng giao tiếp; đang hoặc đã điều trị chỉnh hình răng mặt; có bệnh toàn thân chưa kiểm soát (tim mạch, đái tháo đường, rối loạn đông máu, khối u, ung thư); vỡ hoặc mất mặt xa răng 7; răng khôn sâu vỡ lớn chỉ còn chân răng; bệnh nhân không tuân thủ tái khám hoặc không trả lời đầy đủ phiếu câu hỏi.

Phương tiện và quy trình can thiệp

  • Trang thiết bị chẩn đoán và phẫu thuật: Máy chụp X-quang quanh chóp hiệu ANTHEM (Hoa Kỳ) sử dụng phim quanh chóp rửa nhanh; thước đo kẹp milimet, thước dây mềm, giấy bóng mờ; bộ dụng cụ phẫu thuật miệng chuyên dụng, tay khoan thẳng tốc độ chậm (Slow) kết hợp mũi khoan xương cở 701, 702, 703; thuốc tê Lidocain 2% phối hợp Adrenaline 1:100.000; chất cầm máu Spongel; chỉ khâu Silk 3.0.
  • Quy trình kỹ thuật phẫu thuật (6 bước chuẩn hóa):
    • Bước 1: Khám lâm sàng, khai thác tiền sử, lập bệnh án nghiên cứu.
    • Bước 2: Chụp phim X-quang quanh chóp, phân tích trên giấy bóng mờ về trục răng, độ sâu, hình thể chân răng, bản xương và tương quan với kênh răng dưới.
    • Bước 3: Thực hiện xét nghiệm tiền phẫu (công thức máu, đông máu toàn bộ, sinh hóa máu khi cần).
    • Bước 4: Giải thích mục tiêu, ký cam đoan phẫu thuật.
    • Bước 5: Tiến hành phẫu thuật vào buổi sáng do cùng một phẫu thuật viên thực hiện theo 4 thì:
      • Thì 1 (Tạo vạt): Rạch vạt bao niêm mạc màng xương từ gai nướu gần răng 7, qua cổ răng 7, răng 8 rồi kéo chếch lên bờ trước cành đứng xương hàm dưới; bóc tách vạt bộc lộ bản xương ngoài.
      • Thì 2 (Mở xương): Khoan mở rãnh xương quanh thân răng bằng tay khoan thẳng có bơm rửa nước muối vô khuẩn liên tục, giải phóng đường vòng lớn nhất và tạo điểm tựa bẩy.
      • Thì 3 (Cắt thân, chia chân răng): Cắt thân hoặc chia chân theo phân loại Parant, lấy răng ra từng phần, nạo tổ chức hạt viêm, dũa mịn bờ xương ổ, bơm rửa sạch bằng dung dịch Povidine 10% pha loãng.
      • Thì 4 (Khâu đóng vạt): Đặt Spongel cầm máu, khâu đóng vạt kín bằng chỉ Silk 3.0, cho bệnh nhân cắn gạc cố định.
    • Bước 6: Chăm sóc hậu phẫu thống nhất, đánh giá biến chứng trong mổ, chảy máu trong 24 giờ đầu, theo dõi triệu chứng sưng, đau (thang VAS/NRS), khít hàm (độ há miệng tối đa), dị cảm thần kinh vào ngày thứ 2 và ngày thứ 7.

Tiêu chuẩn đánh giá kết quả can thiệp

Mức độ kết quả Tiêu chuẩn lâm sàng
Tốt Không xảy ra bất kỳ biến chứng nào trong phẫu thuật và tại thời điểm khám lại ngày thứ 7 sau mổ.
Khá Không có biến chứng nghiêm trọng trong và sau phẫu thuật ngày 7, nhưng có ghi nhận tình trạng chảy máu rỉ rả kéo dài cần xử trí trong 24 giờ đầu.
Trung bình Xuất hiện biến chứng trong phẫu thuật (gãy chóp, tổn thương răng 7, tổn thương mô mềm/thần kinh) hoặc còn tồn tại biến chứng tại ngày thứ 7 sau phẫu thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Trình bày tính phổ biến của răng khôn hàm dưới lệch ngầm, cơ chế sinh bệnh học do thiếu khoảng mọc trên cung hàm và các hệ lụy lâm sàng nghiêm trọng đối với sức khỏe răng miệng. Đặt vấn đề chỉ rõ mâu thuẫn giữa nhu cầu điều trị phẫu thuật can thiệp lớn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang (20–25% phẫu thuật Răng Hàm Mặt) với thực trạng bệnh nhân thường đến muộn, dẫn đến khó khăn trong bảo tồn răng kế cận và gia tăng tai biến phẫu thuật.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cấu trúc giải phẫu xương hàm dưới, đặc điểm hình thái thân và chân răng khôn, nguyên nhân gây mọc lệch ngầm; phân tích các biến chứng lâm sàng gồm viêm quanh thân răng, viêm mô tế bào các khoang nông/sâu vùng hàm mặt, sâu mặt xa răng 7, tiêu xương ổ răng và biến chứng thần kinh. Chương 1 trình bày chi tiết các thang phân loại hình thái của Pell-Gregory, Winter, hệ thống thang điểm lượng giá độ khó của Mai Đình Hưng và 4 phương pháp can thiệp phẫu thuật của Parant. Tổng quan cũng phân tích các quan điểm điều trị bảo tồn so với phẫu thuật nhổ răng dự phòng sớm (Lars Andersson 2010, Peterson 2004, Lê Thành Tường 2006) và tổng kết các số liệu nghiên cứu tương đồng trong và ngoài nước.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ trên 75 bệnh nhân; thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang can thiệp không đối chứng; quy chuẩn hóa kỹ thuật đo đạc các góc nghiêng, khoảng hở xương, độ há miệng tối đa bằng thước kẹp milimet và các mốc giải phẫu trên phim X-quang quanh chóp bằng kỹ thuật can giấy bóng mờ; quy trình 4 thì phẫu thuật bằng vạt bao và tay khoan chậm; các tiêu chuẩn phân độ sưng nề, phân bậc đau NRS 4 mức độ và tiêu chí phân hạng kết quả điều trị (Tốt, Khá, Trung bình).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu (dữ liệu theo danh mục bảng biểu của đề tài)

  • Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi (tập trung nhóm 18–25 và 26–35 tuổi), giới tính, nghề nghiệp (lao động trí óc, lao động chân tay, khác); lý do vào viện chiếm ưu thế là đau và sưng-đau; phân bố vị trí phân hàm (Răng 38 bên trái và Răng 48 bên phải); tỷ lệ các biến chứng trước mổ gồm viêm quanh thân răng, viêm mô tế bào, khít hàm, sâu răng 7/răng 8 và mức độ tiêu xương mặt xa chân răng 7.
  • Đặc điểm X-quang và phân loại hình thái: Tỷ lệ phân loại khoảng rộng xương theo Pell-Gregory chiều ngang (Loại I, II, III), tương quan chiều đứng (Vị trí A, B, C); tỷ lệ trục răng theo Winter (lệch gần chiếm đa số, nằm ngang, thẳng đứng, lệch xa); hình thái chân răng (chân chụm, chân cong, chân phân kỳ); đặc điểm cấu trúc vách xương ổ giữa hai chân răng và mối tương quan giải phẫu giữa chóp chân răng khôn với kênh răng dưới.
  • Kết quả điều trị và biến chứng: Phân bố phương pháp phẫu thuật theo Parant (loại I, II, III, IV); thời gian phẫu thuật trung bình (nhóm < 30 phút, 30–60 phút, > 60 phút); tần suất tai biến trong mổ (gãy chóp chân răng, tổn thương răng 7, chảy máu kênh răng dưới, tổn thương mô mềm); tỷ lệ biến chứng sau mổ tại ngày 2 và ngày 7 (chảy máu kéo dài 24 giờ đầu, sưng nề mặt, mức độ đau NRS, biến chứng khít hàm, dị cảm thần kinh cằm/lưỡi); tỷ lệ đánh giá kết quả điều trị chung.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  • Xây dựng và áp dụng thành công quy trình chẩn đoán hình thái kết hợp lượng giá độ khó trước mổ bằng phim X-quang quanh chóp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang, chứng minh tính khả thi của kỹ thuật chụp phim quanh chóp trong điều kiện tuyến tỉnh chưa trang bị máy chụp cắt lớp vi tính (CT-Scan/Cone Beam CT).
  • Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch ngầm bằng kỹ thuật sử dụng vạt bao niêm mạc màng xương kết hợp mở xương và chia cắt răng có kiểm soát bằng tay khoan thẳng tốc độ chậm, giúp hạn chế sang chấn cơ học lên bản xương trong và răng 7 kề bên.
  • Đưa ra các dữ liệu thực chứng về tỷ lệ biến chứng trong và sau phẫu thuật, chứng minh việc chuẩn bị bệnh nhân (điều trị kháng sinh chống nhiễm trùng ổn định, vệ sinh khoang miệng bằng Chlorhexidine 0,12%) và tuân thủ kỹ thuật vô trùng giúp kiểm soát tốt các tai biến nghiêm trọng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng tại cộng đồng nhằm khuyến khích người dân khám răng định kỳ trong độ tuổi 18–25 để phát hiện sớm răng khôn mọc bất thường, tránh để xảy ra biến chứng muộn gây mất xương và hỏng răng 7.
  • Khuyến nghị áp dụng bảng điểm độ khó Mai Đình Hưng và phân loại Parant vào quy trình thường quy tại các khoa Răng Hàm Mặt tuyến tỉnh để tiên lượng thời gian mổ, chuẩn bị dụng cụ phù hợp và dự phòng tai biến.
  • Đề xuất trang bị thêm các phương tiện chẩn đoán hình ảnh cao cấp (như phim toàn cảnh Panorama hoặc CT-Scan) để nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá mối liên quan 3 chiều giữa chóp răng khôn và ống thần kinh răng dưới trong các ca phẫu thuật phức tạp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Về phương tiện chẩn đoán: Nghiên cứu chỉ sử dụng phim X-quang quanh chóp 2 chiều (do điều kiện thực tế tại bệnh viện), hình ảnh có thể có độ chồng lấn nhất định và không khảo sát được toàn diện trong không gian 3 chiều mối tương quan giữa chân răng với kênh răng dưới và bản xương trong như chụp cắt lớp vi tính (CT-Scan).
    • Về cỡ mẫu và phạm vi: Nghiên cứu thực hiện trên cỡ mẫu thuận tiện $n = 75$ tại một trung tâm y tế duy nhất (Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang), thiết kế can thiệp không có nhóm chứng đối đầu giữa các kỹ thuật mở vạt khác nhau (như vạt bao so với vạt tam giác) hoặc giữa các dụng cụ cắt xương khác nhau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và theo dõi dọc trong thời gian dài (6 tháng đến 1 năm) để đánh giá khả năng hồi phục mô nha chu của mặt xa răng 7 và mật độ tái tạo xương tại ổ răng khôn sau phẫu thuật.
    • Ứng dụng phim cắt lớp vi tính chùm tia hình nón (CBCT) và máy phẫu thuật siêu âm (Piezotome) để so sánh hiệu quả giảm đau, giảm sưng và kiểm soát tổn thương thần kinh so với kỹ thuật khoan mở xương truyền thống.

Giá trị tham khảo

  • Đối với bác sĩ Răng Hàm Mặt lâm sàng tại các bệnh viện tuyến tỉnh/huyện: Luận án cung cấp cẩm nang chi tiết về các bước chuẩn bị, kỹ thuật rạch vạt bao, mở xương, chia cắt thân/chân răng theo Parant và phác đồ kiểm soát đau, sưng, khít hàm sau mổ, giúp nâng cao tính an toàn trong thực hành phẫu thuật miệng.
  • Đối với học viên chuyên khoa, bác sĩ nội trú và sinh viên ngành Răng Hàm Mặt: Tài liệu là nguồn tham khảo hệ thống về việc áp dụng phối hợp các thang phân loại kinh điển (Pell-Gregory, Winter, Parant, thang điểm độ khó Mai Đình Hưng) vào phân tích ca bệnh lâm sàng thực tế.
  • Đối với nhà quản lý y tế và các nhà xây dựng chính sách chuyên môn: Luận án cung cấp số liệu thực tế về gánh nặng bệnh lý răng khôn tại địa phương, làm căn cứ cho việc đầu tư trang thiết bị chuyên khoa và xây dựng phác đồ điều trị chuẩn tại các cơ sở y tế công lập.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn nào được sử dụng để phân loại vị trí và mức độ ngầm của răng khôn trong luận án?
Luận án áp dụng kết hợp ba hệ thống phân loại:

  • Phân loại Pell-Gregory theo chiều ngang: Đánh giá tương quan giữa chiều rộng thân răng khôn ($b$) và khoảng cách từ mặt xa răng 7 đến bờ trước ngành lên xương hàm dưới ($a$), chia thành Loại I ($a > b$), Loại II ($a < b$), Loại III ($a$ rất nhỏ hoặc bằng 0).
  • Phân loại Pell-Gregory theo chiều đứng: Đánh giá độ sâu so với mặt nhai răng 7, gồm Vị trí A (ngang hoặc cao hơn mặt nhai răng 7), Vị trí B (nằm giữa mặt nhai và cổ răng 7), Vị trí C (nằm dưới cổ răng 7).
  • Phân loại Winter: Dựa vào độ nghiêng trục răng so với trục răng 7 (thẳng ngầm, lệch gần, lệch xa, lệch ngoài, lệch trong, nằm ngang, lộn ngược).

2. Kỹ thuật phẫu thuật nào được tác giả lựa chọn áp dụng cho 75 bệnh nhân nghiên cứu?
Tác giả áp dụng kỹ thuật phẫu thuật 4 thì theo Parant, sử dụng đường rạch vạt bao niêm mạc màng xương (từ gai nướu gần răng 7 kéo qua cổ răng 7, 8 và chếch lên bờ trước cành đứng), mở xương tạo rãnh thoát bằng tay khoan thẳng tốc độ chậm phối hợp bơm rửa nước muối liên tục, cắt thân hoặc chia chân răng để lấy ra từng phần nhằm giảm thiểu sang chấn, đặt Spongel cầm máu và khâu đóng bằng chỉ Silk 3.0.

3. Thang điểm đánh giá độ khó của phẫu thuật được tính toán như thế nào?
Độ khó được tính bằng tổng điểm của 4 yếu tố theo thang Mai Đình Hưng (1995):

  • Khoảng rộng xương (1–3 điểm)
  • Vị trí độ sâu (1–4 điểm)
  • Trục răng (1–4 điểm)
  • Số lượng và hình dạng chân răng (1–4 điểm)
    Tổng điểm được chia thành 3 mức: Độ I (Ít khó: 1–5 điểm), Độ II (Khó trung bình: 6–10 điểm), Độ III (Rất khó: 11–15 điểm).

4. Biến chứng sau phẫu thuật được theo dõi vào các thời điểm nào và gồm những chỉ số gì?
Tình trạng chảy máu kéo dài được theo dõi liên tục trong 24 giờ đầu sau mổ. Các triệu chứng sưng nề (đo bằng thước dây mềm), mức độ đau (thang NRS chuyển đổi từ VAS), độ khít hàm (đo độ há miệng tối đa bằng thước kẹp milimet) và tình trạng dị cảm thần kinh (tê môi dưới, tê lưỡi) được thăm khám và đánh giá có hệ thống tại hai thời điểm: ngày thứ 2 và ngày thứ 7 sau phẫu thuật.


Kết luận

Luận án Chuyên khoa II của tác giả Võ Thị Ngọc Hà đã hoàn thành đầy đủ hai mục tiêu nghiên cứu thông qua việc mô tả chi tiết đặc điểm lâm sàng, X-quang và đánh giá kết quả phẫu thuật trên 75 bệnh nhân có răng khôn hàm dưới lệch, ngầm tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang. Đề tài khẳng định giá trị thực tiễn của việc kết hợp phân loại Pell-Gregory, Winter với thang điểm lượng giá độ khó Mai Đình Hưng và kỹ thuật phẫu thuật Parant trong việc lập kế hoạch can thiệp an toàn. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu khoa học chuẩn xác, góp phần hoàn thiện quy trình phẫu thuật răng khôn hàm dưới và nâng cao chất lượng điều trị chuyên khoa Răng Hàm Mặt tại y tế tuyến tỉnh.