Tài liệu Y tế: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị dọa đẻ non

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị dọa đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2017. Phân tích triệu chứng và phương pháp can thiệp.

Chuyên ngành

Y Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sỹ Đa Khoa

2018

54
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Định Nghĩa và Phân Loại Dọa Đẻ Non

Dọa đẻ non là tình trạng xuất hiện co tử cung đều đặn trước tuần thai thứ 37, kèm theo sự thay đổi ở cổ tử cung nhưng thai chưa được sinh ra. Đây là một trong những biến chứng phổ biến trong thai kỳ, ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và thai nhi. Đặc điểm lâm sàng của dọa đẻ non bao gồm các cơn co tử cung có tần số và cường độ thay đổi, đau vùng hạ vị và lưng. Tùy thuộc vào tuổi thai, tỷ lệ dọa đẻ non có thể khác nhau, với các biểu hiện từ nhẹ đến nặng. Việc phân loại đúng mức độ nghiêm trọng giúp xác định phương pháp điều trị phù hợp và cải thiện kết quả điều trị.

1.1. Khái Niệm và Tiêu Chí Chẩn Đoán

Chẩn đoán dọa đẻ non dựa trên sự kết hợp giữa triệu chứng cơ năng và dấu hiệu thực thể. Bệnh nhân thường có những triệu chứng như đau vùng hạ vị, cơn co tử cung đều đặn mỗi 5-10 phút, kéo dài từ 20-30 giây. Khám thực thể cho thấy sự xóa mở cổ tử cung từ 2-3 cm, không có chảy máu âm đạo bất thường.

1.2. Tình Hình và Tầm Quan Trọng Lâm Sàng

Tỷ lệ dọa đẻ non chiếm khoảng 10-15% các ca mang thai. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đẻ non là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Đặc điểm lâm sàng tinh tế trong giai đoạn đầu giúp phát hiện sớm và can thiệp kịp thời, từ đó giảm hậu quả của đẻ non.

II. Nguyên Nhân và Yếu Tố Nguy Cơ

Nguyên nhân gây dọa đẻ non rất đa dạng, bao gồm các yếu tố từ phía mẹ, thai và môi trường. Các nghiên cứu cho thấy tiền sử đẻ non là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất, làm tăng tỷ lệ tái phát lên 25-50%. Bệnh lý nhiễm trùng đường sinh dục, tiểu đường thai kỳ, cao huyết áp và bệnh lý nhau thai cũng là những yếu tố nguy cơ đáng chú ý. Đặc điểm lâm sàng của dọa đẻ non thường xuất hiện trong giai đoạn 22-36 tuần, với kết quả điều trị phụ thuộc vào sự kết hợp của nhiều yếu tố.

2.1. Yếu Tố Nguy Cơ Từ Phía Mẹ

Tuổi mẹ trẻ (dưới 20 tuổi) hoặc cao (trên 35 tuổi) tăng nguy cơ. Tiền sử sản khoa bất thường, bệnh lý khi mang thai như tiểu đường, cao huyết áp là những yếu tố quan trọng. Tình trạng dinh dưỡng kém, thiếu vitamin cũng ảnh hưởng đến đặc điểm lâm sàng.

2.2. Yếu Tố Nguy Cơ Từ Phía Thai và Phần Phụ

Bất thường nhau thai, đa ối, khối lượng thai dị thường là những yếu tố nguy cơ từ phía thai. Dỡi ối dư thừa gây tình trạng kéo dãn tử cung quá mức. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến kết quả điều trị và tiên lượng bệnh.

III. Đặc Điểm Lâm Sàng và Cận lâm Sàng

Đặc điểm lâm sàng của dọa đẻ non rất đa dạng, từ những biểu hiện nhẹ đến nặng. Bệnh nhân thường khiếu nại về co tử cung có tần số 1-2 cơn mỗi 10 phút, đau vùng hạ vị và lưng vùng lành. Dấu hiệu thực thể bao gồm sự xóa mở cổ tử cung từ 2-3 cm, có hoặc không chảy máu. Siêu âm là công cụ chẩn đoán quan trọng để xác định tuổi thai, kiểm tra lượng ối, và loại trừ các bệnh lý khác. Kết quả điều trị tốt phụ thuộc vào phát hiện sớm và đặc điểm lâm sàng ban đầu.

3.1. Triệu Chứng Cơ Năng Khi Vào Viện

Triệu chứng chínhcơn co tử cung đều đặn, đau vùng hạ vị, co thắt lưng. Các triệu chứng này xuất hiện từ vài giờ đến vài ngày. Một số bệnh nhân có chảy máu âm đạo nhẹ, dịch ối hoặc không. Tần số cơn co giúp đánh giá mức độ nguy cơ.

3.2. Triệu Chứng Thực Thể và Dấu Hiệu Khám

Khám lâm sàng cho thấy sự xóa mở cổ tử cung từ 2-3 cm, cảm giác co tử cung qua tay. Không nên gây kích thích để tránh tăng co tử cung. Siêu âm xác định tuổi thai, lượng ối, và loại trừ bất thường. Những dấu hiệu này quyết định kết quả điều trị.

IV. Chiến Lược Điều Trị và Kết Quả

Kết quả điều trị dọa đẻ non phụ thuộc vào chiến lược can thiệp kịp thời. Thuốc giảm co tử cung là trụ cột của điều trị, bao gồm sử dụng đơn thuần hoặc phối hợp nhiều loại. Progesteron là thuốc giúp ổn định cơn co và duy trì thai kỳ. Kháng sinh được sử dụng khi có dấu hiệu nhiễm trùng. Corticoid được dùng để tăng sức chịu đựng của phổi thai trước 34 tuần. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công của điều trị khoảng 50-80%, tùy thuộc vào tuổi thai và đặc điểm lâm sàng ban đầu.

4.1. Phương Pháp Sử Dụng Thuốc Giảm Co Tử Cung

Thuốc giảm co như nifedipine, terbutaline, indomethacin được sử dụng đơn lẻ hoặc phối hợp. Sử dụng đơn thuần giúp theo dõi tác dụng phụ dễ hơn. Phối hợp thuốc giúp tăng hiệu quả trong các trường hợp nặng. Progesteron bổ sung giúp duy trì thai kỳ lâu hơn, cải thiện kết quả điều trị.

4.2. Kết Quả Điều Trị và Theo Dõi

Tỷ lệ thành công trong điều trị dọa đẻ non đạt 50-80%, với thời gian nằm viện trung bình 3-7 ngày. Kết quả tốt được định nghĩa là ngừng cơn co tử cung, thai được tiếp tục mang để tối thiểu hóa hậu quả đẻ non. Theo dõi định kỳ và sử dụng kháng sinh phòng ngừa nhiễm trùng cũng quan trọng.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Dọa đẻ non - đẻ non luôn là một vấn đề quan trọng đối với sản khoa, sơ sinh và toàn xã hội. Sơ sinh non tháng có tỷ lệ tử vong và mắc bệnh cao hơn rất nhiều so với trẻ đẻ đủ tháng, nguy cơ cao ị di chứng thần kinh với tỷ lệ 1/3 trước tuần 32, giảm xuống 1/10 sau 35 tuần [3].Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới( WHO), mỗi năm trên thế giới ước tính khoảng 15 triệu trẻ đẻ non, và con số này ngày càng gia tăng. Hơn 1 triệu trẻ chết mỗi năm o các iến chứng của đẻ non. Đẻ non là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh và là nguyên nhân thứ hai sau viêm phổi gây tử vong cho trẻ ưới 5 tuổi.

Trên 184 quốc gia, tỷ lệ đẻ non ao động từ 5% đến 18% số ca sinh [45] Tại Việt Nam, chưa có thống kê trên toàn quốc, nhưng theo những nghiên cứu đơn lẻ, tỷ lệ đẻ non khoảng 8-10% [3]. Ra đời non tháng trẻ chưa đủ trưởng thành để thích nghi với cuộc sống ngoài buồng tử cung. Với sự tiến bộ của y học, người ta đã có thể nuôi sống những trẻ có trọng lượng và tuổi thai khá nhỏ, bên cạnh mặt tích cực là cứu sống thì có nhiều trường hợp mang những di chứng, chăm sóc và điều trị trẻ đẻ non tốn kém hơn rất nhiều về kinh tế và thời gian trở thành gánh nặng cho xã hội [7]. Vì vậy, hạn chế tỷ lệ dọa đẻ non và đẻ non luôn là mục đích của y học nhằm cho ra đời những đứa trẻ có thể chất khỏe mạnh, thông minh.

Hầu hết đẻ non diễn biến âm thầm rồi kết thúc bằng chuyển dạ [13]. Mặc ù đã có nhiều phương tiện kỹ thuật để dự áo nguy cơ cũng như chẩn đoán ọa đẻ non, nhiều thuốc được nghiên cứu để ngăn chặn cơn co tử cung và dự phòng dọa đẻ non tái phát nhưng tỷ lệ đẻ non trong những năm qua không có sự thay đổi đáng kể. Chính vì vậy chẩn đoán và điều trị dọa đẻ non vẫn luôn là thách thức đối với ngành sản khoa thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là một trong những cơ sở đầu ngành về Sản phụ khoa và điều trị dọa đẻ.

Nghiên cứu tại viện sẽ cho chúng tôi cái nhìn tổng quan về tình hình dọa đẻ non tại thời điểm hiện tại. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều tr doạ đẻ non tại Bện viện Phụ sản Hà Nội ăm 2017” với các mục tiêu: 1. Mô tả một đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ oạ đẻ non. Nhận xét kết quả điều trị dọa đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong năm 2017.2017 CHƯ N 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Định nghĩa đẻ non Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO: Đẻ non là trẻ đẻ ra trước 37 tuần của thai kỳ và có thể sống được [45]. Theo Creasy: Cuộc đẻ diễn ra từ tuần 20 đến dưới 37 tuần chậm kinh [29]. Ở Việt Nam trước đây, hầu hết các tác giả đều đưa ra định nghĩa đẻ non là cuộc đẻ diễn ra từ 28 đến 37 tuần. Hiện nay o điều kiện chăm sóc và nuôi ưỡng trẻ non tháng được cải thiện, nhiều trẻ có tuổi thai ưới 28 tuổi có thể sống được nên khái niệm về đẻ non cũng thay đổi.

Theo tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh phụ khoa do Bộ Y tế an hành 2015: Đẻ non là cuộc chuyển dạ diễn ra từ tuần thứ 22 đến trước tuần 37 của thai kì tính theo kỳ kinh cuối cùng [3]. Theo Nguyễn Việt Hùng: Đẻ non là hiện tượng gián đoạn thai nghén khi tuổi thai có thể sống được [8]. Theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản 2016 của Bộ Y tế: Đẻ non là khi trẻ sơ sinh được sinh ra còn sống từ khi đủ 22 tuần đến trước khi đủ 37 tuần [4]. Dọa đẻ non là giai đoạn tiềm tàng của đẻ non, được định nghĩa là quá trình chuyển ạ ở tuổi thai từ 22 đến 37 tuần với ít nhất 1 cơn g tử cung trong mỗi 10 phút theo i liên tục bằng monitoring trong 30 phút [18].

Tình hình đẻ non Đẻ non là một vấn đề đáng quan tâm của cả Việt Nam và trên Thế giới. Tỷ lệ đẻ non không giống nhau trên thế giới, nó phụ thuộc vào các yếu tố như ân trí, phát hiện các yếu tố nguy cơ, điều trị của cơ sở y tế, điều kiện kinh tế xã hội của người bệnh [11]. Tỷ lệ từ 5-15 % trong tổng số các cuộc đẻ, chủng tộc da trắng là 8,5 % a đen 18,3 % ( theo Tổ chức Y tế Thế giới 1997 ) [1]. Theo một số tác giả Creasy và cộng sự năm 1993 là 9,6 % [27] Tại Pháp trong năm 2010: 7,4 % sinh non, 48% trường hợp sinh non do chỉ định, 52% tự phát (bao gồm ối vỡ non) [10].2017 Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ sinh non tháng (trước 37 tuần tuổi thai) đạt đỉnh điểm 12,8% năm 2006 và 11,7% vào năm 2011[34].

Theo thống kê của Việt Nam, năm 2002 có khoảng 180 nghìn sơ sinh non tháng trên tổng số gần 1,6 triệu sơ sinh chào đời, 1/5 số các trẻ sơ sinh non tháng này tử vong [17]. Hiện nay chưa có thống kê trên toàn quốc nhưng theo những nghiên cứu đơn lẻ, tỷ lệ đẻ non khoảng 8-10% [3]. Đặc điểm của sơ sinh non tháng Tất cả trẻ đẻ non đều có biểu hiện ít nhiều về sự thiếu sót về sự tạo thành của các hệ thống trong cơ thể. Những đặc điểm sinh lý phụ thuộc vào mức độ và nguyên nhân đẻ non.

Những đặc điểm đó chứng tỏ khả năng thích nghi kém với môi trường bên ngoài tử cung của trẻ [29]. Trẻ sơ sinh trước 24 tuần hiếm khi sống sót mà không có trở ngại nghiêm trọng. Các biến chứng về thần kinh thường ít xảy ra sau 32 tuần, trẻ trước 32 tuần thường khó khăn khi hô hấp, dự phòng nhiệt, cũng như gia tăng các vẫn đề sức khỏe [34]. Về hô hấp hấp: trẻ đẻ non dễ bị suy hô hấp hơn trẻ đủ tháng do phổi chưa trưởng thành, tế bào nang còn là tế bào trụ, tổ chức liên kết kém phát triển, phế nang khó giãn nở, cách xa các mao mạch nên sự trao đổi oxy khó khăn, nước ối tiêu chậm, các mao mạch tăng tính thấm dễ sung huyết.

Lồng ngực hẹp, xương sườn, cơ liên sườn chưa phát triển làm hạn chế i động của lồng ngực [16]. Về tim mạch: Tỷ lệ tim ngực > 0,55, trục phải. Trẻ dễ bị suy hô hấp nên dễ có hiện tượng còn ống động mạch. Nhịp tim ao động hơn trẻ đủ tháng do nhịp thở không đều, mạch dễ vỡ, dễ thoát quản gây phù.

Các tế bào máu giảm nên trẻ dễ bị thiếu máu nhược sắc. Yếu tố đông máu đều giảm hơn trẻ đủ tháng nên dễ bị xuất huyết [16]. Về thần kinh: Tổ chức não nhiều nước, hồi não chưa hình thành, không r các đường rãnh, nếp nhăn, vỏ não chưa hoạt động nên trẻ nằm lìm cả ngày, không cử động, thở nông, khóc yếu, phản xạ sơ sinh yếu hoặc chưa có tùy thuộc vào mức độ đẻ non. Các mạch máu não có tính thấm cao và thiếu các men chuyển hóa nên dễ bị xuất huyết não [16].

Các cơ quan khác cũng chưa phát triển đầy đủ. Da mỏng, bộ phận miễn dịch yếu hoặc chưa phát triển đầy đủ. Gan không có glycogen và một số men chuyển hóa [29].2017 Do đó trẻ đẻ non dể suy hô hấp, dễ nhiễm khuẩn dễ dẫn đến tử vong, tỷ lệ tử vong chu sinh và sơ sinh thô từ 30-40 % [8]. Cơ chế bệnh sinh của chuyển dạ đẻ non Cho đến nay cơ chế của chuyển dạ đẻ non chưa thực sự r ràng và đầy đủ, tuy nhiên có một số giả thuyết đã được đa số chấp nhận.

Thuyết estrogen và progesteron Trong quá trình thai nghén, Estrogen và Progesteron tăng ần theo tuổi thai với một tỷ lệ nhất định. Estrogen tăng lên nhiều làm tăng tính kích thích các sợi cơ trơn tử cung, cơ tử cung trở nên mẫn cảm hơn với các tác nhân gây cơn co tử cung, đặc biệt là oxytocin. Progesteron giảm đột ngột trước khi chuyển dạ vài ngày làm thay đổi tỷ lệ giữa estrogen và progesteron và điều này được coi như là nguyên nhân làm cho thức tỉnh của tử cung tăng lên, cơ tử cung dễ đáp ứng với các kích thích gây co và phát sinh chuyển dạ [9]. Thuyết prostaglandin(PG) Prostaglandin có thể làm thay đổi hoạt tính co bóp của tử cung.

Người ta có thể gây chuyển dạ bằng cách tiêm Prostaglandin dù có thai ở bất kỳ tuổi nào [9]. Prostagan ins đóng một vai trò cụ thể, chúng được sản xuất ởi enzym prostaglan in tổng hợp (PGHS) từ axit arachi onic trong amial, chorial, eci ual và myometrial tế ào. Lượng và sản xuất prostaglan ins - tỷ lệ các chất hoạt tính và chất chuyển hóa của chúng được kiểm soát ởi enzyme prostaglan in hy rogenasis (PGDH) với nhau và nhau thai. Hoạt động của nó được kích thích và ức chế với nội sinh corticoi s và progesterone tương ứng [29].

Sự sản xuất PGF2 và PGE2 tăng ần trong quá trình thai nghén và đạt tới giá trị cao trong nước ối, màng rụng và trong cơ tủ cung vào lúc ắt đầu cuộc chuyển ạ, tham gia chín muồi cổ tử cung o tá ụng lên chất collagen của cổ tử cung [9,12]. Đẻ non xuất hiện khi nồng độ PG tăng cao [23]. Vai trò của Oxytocin Người ta đã xác định được có sự tăng tiết oxytocin ở thùy sau tuyến yên của người mẹ trong chuyển dạ đẻ. Các đỉnh liên tiếp nhau của oxytocin có tần số tăng lên trong quá trình chuyển dạ và đạt mức tối đa khi rặn đẻ.

Mức oxytocin ở máu mẹ tăng ít ở giai đoạn một của chuyển dạ và nó chỉ tăng cao ở giai đoạn hai và 4 Nghien.2017 sau khi sổ thai [9]. Oxytocin tác dụng tăng co tử cung, số lượng receptor tiếp nhận oxytocin trong cơ tử cung tăng trong vài tháng cuối thời kỳ có thai [20]. Thuyết nhiễm khuẩn Tử cung là một nguồn phong phú của tế ào lympho - một trong những tế bào chụi trách nhiệm của phản ứng ị ứng, sự thoái hoá của các tế ào lympho trong cơ thể ẫn đến sự khởi phát của tử cung hoạt động, đặc iệt là phóng thích prostaglandin [29].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ