Đặt vấn đề Rừng tự nhiên đang dần bị thu hẹp diện tích, giảm chất lượng, trữ lượng. rừng nghèo, đất trống đồi núi trọc tăng lên do bị chặt phá, khai thắc, đốt nương làm rẫy, sử dụng không hợp lý. Gỗ và các tài nguyên khác dần bị cạn kiệt, các loài cây gỗ có giá trị đã và đang bị khai thác một cách triệt để, khả năng tái sinh tự nhiên của chúng luôn bị đe dọa. Trước thực tế mất rừng và các nhu cầu về gỗ ngày càng tăng , cũng như vấn đề phòng hộ môi trường đang ngày càng trở nên cấp thiết, trong nhiều năm qua.
Nhà nước ta với sự trợ giúp của các tổ chức nước ngoài đã đầu tư khá lớn vật tư, tiền vốn để trồng, phục hồi và phát triển rừng. Những năm gần đây trong công cuộc trồng rừng của nước ta đang có xu hướng bổ sung cơ cấu cây trồng bằng các loài cây địa phương. Nghiến gân ba là một loài cây lớn, cho gỗ tốt, có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao,vì là cây gỗ quý hiếm có giá trị cho nên trong những năm qua cây Nghiến gân ba đã bị khai thác với số lượng lớn, hiện chỉ còn rất ít ở một số vùng rừng trên núi đá vôi, hiện giờ đang là đối tượng cần được nuôi dưỡng bảo vệ và phát triển. Sự tái sinh các loài cây trên núi đá vôi rất khó và sự sinh trưởng của chúng rất chậm chạp, loài Nghiến gân ba trên núi đá vôi mất hàng trăm, nghìn năm sau mới có được cây Nghiến cổ thụ, việc khôi phục loài này là hết sức khó khăn.
Những năm qua, tại một số khu rừng đặc dụng, Vườn quốc gia vẫn còn tình trạng khai thác trái phép Nghiến gân ba, chủ yếu là khai thác Nghiến gân ba dưới dạng thớt mang tiêu thụ. Chính vì vậy số lượng diện tích rừng Nghiến gân ba giảm rất mạnh và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao. Để bảo tồn và phát triển cây Nghiến gân ba nguồn gen thực vật quý, hiếm tôi tiến hành làm khóa luận “Nghiên cứu đặc điểm lâm học cây Nghiến gân ba h 2 (Excentrodendron tonkinense) tại xã Tân Dương, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Xác định được thực trạng phân bố và một số đặc điểm lâm học của cây Nghiến gân ba tại xã Tân Dương, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Nghiến gân ba tại xã Tân Dương, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài. Ý nghĩa khoa học - Bổ sung thông tin về đặc điểm phân bố và lâm học của cây Nghiến gân ba tại địa bàn nghiên cứu. - Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn.
- Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác về loài cây Nghiến gân ba. Ý nghĩa thực tiễn Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của loài Nghiến gân ba nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài Nghiến gân ba tại xã Tân Dương, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng.
Quá trình đô thị hóa, ô nhiễm môi trường, chặt phá rừng là những nguyên nhân gây suy giảm diện tích rừng, suy giảm đa dạng sinh học, nhiều loài động thực vật quý đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy cần có những hành động cụ thể của cộng đồng đó là các chương trình, dự án để bảo tồn một cách kịp thời. Trong đó Nghiến gân ba là loài gỗ quý có giá trị kinh tế cao, đã và đang bị khai thác mạnh dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng chính trong tương lai gần vì thế chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể về đặc tính sinh học của loài này từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật.
Về cơ sở bảo tồn Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. h 4 Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Cây Nghiến tuy có khu phân bố rộng, nhưng bị khai thác rất mạnh (trước đây để lấy gỗ dùng trong xây dựng và làm tà vẹt, hiện nay dùng làm thớt chủ yếu xuất khẩu trái phép qua biên giới).
Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giớ Về cấu trúc rừng Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia ra làm 3 dạng cấu trúc là: cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian. Cấu trúc của thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống.
Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo trật tự của quần xã. Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được P. Odum (1971) [22] tiến hành. Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.
Baur (1964) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện rừng. Khái niệm sinh thái h 5 được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học. Công trình nghiên cứu của R.
Plaudy (1987) [13] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến. Nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật săp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật theo không gian và thời gian (Phùng Ngọc Lan, 1986) [10] cấu trúc rừng bao gồm cấu trú sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi. Trần Ngũ Phương (1970) [14] cũng đã nghiên cứu cấu trúc sinh thái để làm căn cứ phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam, đã chỉ những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam năm 1961 đến năm 1965. Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
Cây Nghiến gân ba hay còn có tên khác: Nghiến đỏ; Nghiến trứng; Kiêng mật; Kiêng đỏ. Có tên khoa học là : Excentrodendron tonkinensis. Khi nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978) [21] Đã nhấn mạnh ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai đoạn phát triển cây tái sinh. Việt nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với 4 mùa xuân, hạ, thu, đông chính vì thế hệ động thực vật tại việt nam vô cùng phong phú và đa dạng.
Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được 11.524 chi, 378 họ trong 7 ngành thực vật khác nhau (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) [18]. Với hơn 19 triệu hecta rừng và đất rừng, hệ động thực vật phong phú và h 6 đa dạng với nhiều loài động thực vật quý hiếm được phát hiện và bảo tồn trong số đó cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) là một trong những cây quý hiếm thường phân bố trên vùng núi đá vôi, có giá trị cao đang được nghiên cứu và bảo tồn trước nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học. Các nghiên cứu về bảo tồn Sách đỏ Việt Nam 1996 [2] lần đầu tiên được soạn thảo và chính thức công bố và sách đỏ năm 2007 [3] đã thực sự phát huy tác dụng, được sử dụng có hiệu quả trong các hoạt động nghiên cứu giảng dạy, quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên động thực vật ở nước ta, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật, môi trường thiên nhiên nước ta trong giai đoạn vừa qua. Việt Nam đã có những cam kết và hành động cụ thể để quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã.
Điều này được thể hiện bằng một loạt các văn bản, chính sách đã ra đời, Nghị định 18/HĐBT (1992) [9] Nghị định 48/2002/NĐ-CP (2002) [6] và Nghị Định 32-CP/2006 [7] Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006. Nghị định 160/2013 NĐ-CP [8] về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Luật đa dạng sinh học (2008) [11] nhằm quy định các loài động thực vật nguy cấp, quý, hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ.