Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong văn hóa chăm sóc sức khỏe truyền thống tại Việt Nam, việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc và nước uống giải khát đã gắn bó lâu đời. Cây Chè vằng (còn gọi là lá vằng, râm trắng, lài ba gân, mổ sẻ, bạch hoa trà), tên khoa học là Jasminum nervosum Lour., thuộc họ Nhài (Oleaceae), là loài phân bố hoang dại rộng rãi từ Bắc vào Nam, điển hình tại các tỉnh miền Bắc như Hòa Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Dân gian thường thu hái thân, cành và lá phơi khô để đun nước uống hàng ngày nhằm thanh nhiệt, kích thích tiêu hóa, an thần và đặc biệt tốt cho phụ nữ sau sinh. Sản phẩm cao lá vằng thương mại cũng phát triển mạnh mẽ để phục vụ nhu cầu thị trường.

Tuy nhiên, trong tự nhiên có nhiều loài thuộc chi Nhài (Jasminum L.) có hình thái thân leo hoặc bụi trườn rất giống nhau, khiến người dân dễ thu hái nhầm lẫn các loài cùng chi với Chè vằng thực sự. Mặt khác, các mô tả trong Dược điển Việt Nam hiện hành còn mang tính đại cương, chưa cung cấp chi tiết giải phẫu vi phẫu và đặc điểm bột dược liệu có hình ảnh hiển vi rõ nét. Do đó, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định tên khoa học của loài Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn.
  2. Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) và loài dễ nhầm lẫn thuộc chi Jasminum thu thập ở tỉnh Hòa Bình.
  3. Nghiên cứu đặc điểm vi phẫu Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn.
  4. Nghiên cứu đặc điểm bột dược liệu Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn.

Đối tượng nghiên cứu gồm hai mẫu thực vật mang ký hiệu CV01 (Chè vằng) và CV02 (loài dễ nhầm lẫn) được thu hái trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Phạm vi nghiên cứu đối chiếu hình thái và danh pháp dựa trên hệ thống tiêu bản tại Trung tâm Tài nguyên Dược liệu - Viện Dược liệu (NIMM), Vườn thực vật Hoàng gia Kew (Kew), Bảo tàng Đại học Wien (WU) và Bảo tàng Lịch sử tự nhiên quốc gia Pháp (MNHN). Đề tài được hoàn thành vào tháng 5 năm 2023 tại Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan (2009), xếp chi Jasminum L. vào tông Jasmineae, họ Nhài (Oleaceae), bộ Hoa môi (Lamiales), lớp Magnoliopsida, ngành Ngọc Lan. Nghiên cứu kế thừa các khung khóa phân loại chi Jasminum của De Candolle (1844), Gagnepain (1933), Kobuski (1932), P.S. Green (1997, 2001, 2003, 2004) và khóa định loại họ Oleaceae ở Việt Nam của Bùi Hồng Quang (2016). Các tên đồng nghĩa chính của Jasminum nervosum Lour. được văn bản ghi nhận gồm Jasminum anastomosans Wall., Jasminum hemsleyi Yamam., Jasminum subtriplinerve Blume, Jasminum trinerve Roxb., Jasminum trineuron Kobuski, Jasminum lindleyanum Blume.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai đồng bộ qua các kỹ thuật:

  • Thu thập và xử lý mẫu thực địa: Thực hiện theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007). Thu hái đầy đủ thân, cành, lá, hoa và quả; ép mẫu bằng bản gỗ ép, xử lý cồn, ghi chép đặc điểm ngoài thiên nhiên và lưu giữ tiêu bản.
  • Hình thái so sánh và hoàn nguyên mẫu khô: Đối chiếu các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản với tiêu bản chuẩn quốc tế và trong nước. Đối với mẫu hoa khô, áp dụng kỹ thuật đun sôi trong ống nghiệm ngập nước trên ngọn lửa đèn cồn để mô mềm nở trở lại trạng thái tự nhiên trước khi bóc tách dưới kính lúp.
  • Giải phẫu vi phẫu: Cắt ngang cành ở lóng thứ 3 tính từ ngọn và cắt ngang lá bánh tẻ ở vị trí 1/3 gần gốc bằng dao lam trên microtome cầm tay. Cố định mẫu bằng Carnoy I trong 24 giờ rồi chuyển sang cồn 70°. Tẩy nội chất bằng dung dịch cloramin 5% hoặc nước Javen trong 20-30 phút, rửa sạch, ngâm dung dịch acid acetic 1% trong 10-15 phút để khử clo dư. Nhuộm kép bằng đỏ carmin 0,5% (5 phút) và xanh methylene 1%.
  • Phân tích hiển vi bột dược liệu: Thực hiện theo hướng dẫn của Nguyễn Viết Thân (2003) trong "Kiểm nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi". Thân cành và lá được tách riêng, sấy khô ở 60°C trong tủ sấy WseVen, nghiền mịn, rây lấy bột, làm tiêu bản với nước cất và soi kính hiển vi.
  • Trang thiết bị: Kính hiển vi quang học Nikon Eclipse Ci và kính hiển vi soi nổi Nikon SMZ 745T kết nối camera Nikon DS-Fi2 và máy tính; máy ảnh Canon IXY 30s.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết lịch sử phân loại chi Jasminum L. trên thế giới từ C. Linnaeus (1753) mô tả 6 loài đầu tiên; De Candolle (1844) phân chia thành 4 nhánh lớn dựa vào cách mọc lá và thùy đài; P.S. Green (1997-2004) hoàn thiện hệ thống phân loại học hiện đại dựa trên hình thái và dữ liệu phát sinh chủng loại phân tử họ Oleaceae. Chi này phân bố chủ yếu tại vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, châu Phi và di cư sang Địa Trung Hải, châu Mỹ. Các nghiên cứu vi học quốc tế của Sandip Kumar Pahari (2017) trên rễ J. multiflorum và Preeti Garg & Vandana Garg (2022) trên thân J. multiflorum, J. mesnyi bước đầu ghi nhận lát cắt vi phẫu nhưng chưa mô tả chi tiết. Tổng quan của Akash Jain (2011) ghi nhận nhiều loài có giá trị chữa bệnh như J. grandiflorum, J. sambac, J. mesnyi.

Tại Việt Nam, Loureiro (1790) mô tả J. nervosum đầu tiên; Gagnepain (1933) công bố 29 loài mới; Phạm Hoàng Hộ (1970, 1999) thống kê 33 loài; Bùi Hồng Quang (2016) xây dựng khóa định loại toàn diện. Về dược dụng, có 15 loài trong số 30 loài thuộc chi được dùng làm thuốc, phổ biến là nhóm "Chè vằng" gồm các loài bụi leo hoa trắng tương đồng (J. subtriplinerve, J. lanceolatum, J. longisetum). Tuy nhiên, các dẫn liệu giải phẫu hiển vi chuyên sâu về loài J. nervosum phục vụ kiểm nghiệm tính đúng của dược liệu vẫn còn thiếu hụt.

Chương II: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đặc điểm 2 mẫu nghiên cứu CV01 và CV02 thu thập tại Hòa Bình; cụ thể hóa 4 nội dung nghiên cứu thực nghiệm từ giám định tên khoa học, phân tích hình thái, giải phẫu vi phẫu đến hiển vi bột cành và lá. Chương này chuẩn hóa toàn bộ quy trình cắt lát vi phẫu, thời gian tẩy nội chất, tỷ lệ pha chế hóa chất nhuộm kép (đỏ carmin 0,5% và xanh methylene 1%), kỹ thuật quan sát ở các vật kính 4x, 10x, 20x, 40x và quy trình chế bị mẫu bột theo đúng quy phạm kiểm nghiệm dược liệu hiển vi.

Chương III: Kết quả nghiên cứu

Khóa luận đã định danh mẫu CV01 là loài Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) thông qua khóa định loại của Bùi Hồng Quang (2016) và đối chiếu tiêu bản Kew (K000901407), NIMM (NIMM856, NIMM1414, NIMM5899, NIMM9678). Mẫu CV02 được xác định là loài Nhài năm gân (Jasminum pentaneurum Hand.-Mazz.) qua đối chiếu tiêu bản Đại học Wien (WU0060942) và Bảo tàng Paris (MNHN-P-P0023854, MNHN-P-P00887978).

Về hình thái học, Jasminum nervosum là cây bụi trườn dài 1-5 m, nhánh non nhẵn (đường kính 0,15-0,4 cm). Lá đơn mọc đối, phiến hình trứng đến mũi mác (2,5-13 × 0,7-6 cm), dạng giấy, 3 gân chính tỏa từ gốc, cuống lá dài 2-10 mm có khớp không vặn xoắn, hai mặt lá gần như cùng màu xanh lục. Cụm hoa xim mọc ở đỉnh cành hay nách lá, đơn độc hoặc 3-5 hoa; lá bắc dạng hình đường dài 1-13 mm; đài hoa hình chuông có 6-7 thùy sợi dài (0,5-) 1-1,7 cm; ống tràng trắng dài 1,3-2,6 cm phình to ở chỗ đính nhị, 8-10 thùy tràng dài 12-20 × 1,5-4 mm; 2 nhị có bao phấn hình thuôn dài 3-4 mm; bầu hình trứng dài 1-1,2 mm. Quả mọng hình bầu dục kích thước 0,7-2 × 0,5-1,3 cm, chín chuyển màu đen. Ngược lại, Jasminum pentaneurum dài 1-9 m, cành non có góc, rỗng và có lông thưa (kích thước 0,2-0,6 cm). Phiến lá hình trứng rộng đến bầu dục (4-10 × 1,5-6,5 cm) có lông thưa, 3 hoặc 5 gân từ gốc, cuống lá vặn xoắn dài 0,5-1,8 cm, mặt dưới lá màu trắng đục. Cụm hoa tụ hình đầu nhiều hoa, lá bắc cụm hoa dạng lá hình bầu dục dài 1-2 cm, đài hình chén có lông, bao phấn hình bầu dục có phần phụ dài 1-1,5 mm, bầu hình chén.

Cơ quan Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) Nhài năm gân (Jasminum pentaneurum Hand.-Mazz.)
Cành non Nhẵn, dài 1-5 m, đường kính 0,15-0,4 cm Có lông thưa, rỗng, dài 1-9 m, đường kính 0,2-0,6 cm
Lá Hình trứng đến mũi mác; gân chính nhẵn; 3 gân gốc; cuống có khớp không vặn; 2 mặt xanh lục Hình trứng rộng, bầu dục, mắt chim; có lông thưa; 3-5 gân gốc; cuống vặn xoắn; mặt dưới trắng đục
Cụm hoa & Lá bắc Hoa đơn độc hoặc cụm xim 3-5 hoa thưa; lá bắc cụm hoa dạng hình đường (1-13 mm) Cụm hoa nhiều hoa tạo hình đầu; lá bắc cụm hoa dạng lá hình bầu dục (1-2 cm)
Đài hoa Đài hình chuông, không lông, 6-7 thùy sợi Đài hình chén, có lông, 5 thùy sợi
Nhị & Bầu nhụy Bao phấn hình thuôn; bầu hình trứng Bao phấn hình bầu dục (phần phụ 1-1,5 mm); bầu hình chén

Về giải phẫu vi phẫu, cành Chè vằng có tiết diện tròn; biểu bì gồm nhiều lớp tế bào chữ nhật, không có lông che chở; lục bì 1-2 lớp; mô dày 2-5 lớp tế bào đa giác tròn xếp thành đám, không chứa mạch gỗ; vòng mô cứng 2-5 lớp thành dày liên tục ngăn cách mô mềm vỏ và libe; mô gỗ liên tục với mạch gỗ xếp dãy 3-6 mạch; mô mềm ruột chứa tinh thể calci oxalat tập trung thành từng đám. Gân lá Chè vằng lồi mặt dưới, biểu bì hóa cutin không lông; bó libe-gỗ xếp vòng cung, gỗ hướng chụm vào nhau, bề dày gỗ gấp 2-3 lần libe; mạch gỗ xếp dãy 3-8 mạch. Phiến lá Chè vằng có mô giậu 1 lớp, giữa phiến lá có đám tinh bột và không có mạch gỗ rải rác. Đối với Nhài năm gân, vi phẫu cành và lá đều có lông che chở mọc ngoài biểu bì; mô dày của cành và gân lá có mạch gỗ tròn tạo nan hướng tâm xếp xen kẽ; phiến lá có mạch gỗ rải rác nhưng không có đám tinh bột; tinh thể calci oxalat trong ruột cành phân bố rải rác đơn độc.

Vị trí giải phẫu Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) Nhài năm gân (Jasminum pentaneurum Hand.-Mazz.)
Vi phẫu cành Biểu bì không lông che chở; mô dày không có mạch gỗ; mô mềm ruột có tinh thể calci oxalat tụ thành đám Biểu bì có lông che chở; mô dày có mạch gỗ tròn nan hướng tâm; mô mềm ruột có tinh thể calci oxalat cầu gai rải rác
Vi phẫu gân lá Biểu bì không lông che chở; libe xếp xen kẽ giữa mô mềm và gỗ; mô dày không có mạch gỗ Biểu bì có lông che chở; mô dày có mạch gỗ xen kẽ; mô mềm trên xếp xen kẽ với phần gỗ
Vi phẫu phiến lá Biểu bì không lông che chở; có đám tinh bột ở giữa phiến lá; không có mạch gỗ rải rác Biểu bì có lông che chở; có mạch gỗ rải rác ở phiến lá; không có tinh bột giữa phiến lá

Về đặc điểm bột dược liệu: Bột cành Chè vằng có màu vàng nâu, vị đắng; mảnh biểu bì đa giác; mô cứng vách dày ống trao đổi rõ; lỗ khí kiểu song bào; hạt tinh bột đơn hình chuông hoặc gần tròn rốn hạt rõ kích thước 10-20 µm; mạch xoắn dạng lò xo; tinh thể calci oxalat hình cầu gai đường kính 17,5 µm; mô giậu chữ nhật; hoàn toàn không có lông che chở và mạch gỗ tròn. Bột lá Chè vằng màu xanh lá, vị đắng; lỗ khí song bào tế bào vách uốn lượn; tinh thể calci oxalat cầu gai đường kính 12,5-15 µm; hạt tinh bột hình chuông hoặc thận; không có lông che chở và mạch gỗ. Ở Nhài năm gân, bột cành màu nâu và bột lá màu vàng nâu; cả bột cành và bột lá đều xuất hiện đặc trưng lông che chở hình móc câu và các mạch gỗ hình tròn có vòng to dần từ tâm hướng ra.

Dạng bột Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) Nhài năm gân (Jasminum pentaneurum Hand.-Mazz.)
Bột lá Màu xanh lá, vị đắng; không có lông che chở; không có mạch gỗ; calci oxalat cầu gai 12,5-15 µm Màu vàng nâu, vị đắng; có lông che chở hình móc câu; có mạch gỗ tròn; calci oxalat cầu gai 12,5-15 µm
Bột cành Màu vàng nâu, vị đắng; không có lông che chở; không có mạch gỗ; calci oxalat cầu gai 17,5 µm Màu nâu, vị đắng; có lông che chở hình móc câu; có mạch gỗ tròn; calci oxalat cầu gai 17,5 µm

Chương V: Bàn luận

Tác giả phân tích các điểm khác biệt mang tính chất chẩn đoán phân biệt giữa Chè vằng và Nhài năm gân. Về hình thái, kích thước nhánh và phiến lá Chè vằng nhỏ hơn Nhài năm gân; cụm hoa Chè vằng mọc thưa 1-5 hoa với lá bắc hình đường, khác với cụm hoa tạo hình đầu dày đặc có lá bắc dạng lá của Nhài năm gân. Về mặt hiển vi, sự hiện diện của lông che chở hình móc câu và mạch gỗ rải rác ở mô dày và phiến lá là tiêu chí loại trừ tuyệt đối đối với Chè vằng. Dạng phân bố của tinh thể calci oxalat (tụ thành đám ở ruột cành Chè vằng so với đơn độc ở Nhài năm gân) và sự xuất hiện của đám tinh bột giữa phiến lá Chè vằng là các dấu hiệu vi học then chốt. Tác giả nhấn mạnh Dược điển Việt Nam hiện mới chỉ mô tả sơ lược Chè vằng, việc khóa luận cung cấp hệ thống mô tả chi tiết kèm hình ảnh chụp hiển vi rõ nét có ý nghĩa thiết thực cho tiêu chuẩn hóa dược liệu.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng và phát hiện cụ thể CÓ TRONG văn bản:

  • Định danh chính xác tên khoa học của hai mẫu dược liệu thu hái tại Hòa Bình là Jasminum nervosum Lour. (Chè vằng) và Jasminum pentaneurum Hand.-Mazz. (Nhài năm gân).
  • Cung cấp số liệu kích thước hình thái chi tiết: Cành Chè vằng dài 1-5 m (đường kính 0,15-0,4 cm), lá 2,5-13 × 0,7-6 cm, cuống 2-10 mm, cụm hoa 1-5 hoa, thùy tràng 8-10 kích thước 12-20 × 1,5-4 mm, bao phấn 3-4 mm, quả 0,7-2 × 0,5-1,3 cm; Nhài năm gân dài 1-9 m (đường kính 0,2-0,6 cm), lá 4-10 × 1,5-6,5 cm, cuống vặn xoắn 0,5-1,8 cm, lá bắc dạng lá 1-2 cm, quả 0,9-1,8 × 0,6-1 cm.
  • Xác định các thông số hiển vi: Đường kính tinh thể calci oxalat hình cầu gai ở bột cành là 17,5 µm và ở bột lá là 12,5-15 µm; kích thước hạt tinh bột đơn 10-20 µm; số mạch gỗ xếp dãy 3-6 mạch ở cành và 3-8 mạch ở gân chính lá Chè vằng.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khóa luận đã bổ sung phần mô tả giải phẫu hiển vi cành, lá và bột dược liệu chi tiết kèm hệ thống hình ảnh minh họa sắc nét ở các độ phóng đại x4, x10, x40, khắc phục sự thiếu hụt hình ảnh và tính chất mô tả khái quát trong Dược điển Việt Nam.
  • Giải pháp đề xuất: Ứng dụng các chỉ tiêu vi học (sự vắng mặt của lông che chở, không có mạch gỗ mô dày, tinh thể calci oxalat tụ thành đám) làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm tính đúng của Chè vằng, loại bỏ nguy cơ lẫn lộn loài Nhài năm gân trong thu hái tự nhiên và sản xuất cao dược liệu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản ghi nhận các hạn chế và hướng mở nghiên cứu cụ thể:

  • Hạn chế: Nghiên cứu chỉ tập trung vào đặc điểm thực vật học, giải phẫu vi phẫu và hiển vi bột của hai loài thu thập tại địa bàn tỉnh Hòa Bình; chưa tiến hành khảo sát thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học của các mẫu thu thập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu sâu về thành phần hóa học của Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) và Nhài năm gân (Jasminum pentaneurum Hand.-Mazz.) thu thập tại Hòa Bình; mở rộng nghiên cứu sang các loài nhầm lẫn khác thuộc chi Jasminum mang tên gọi địa phương "Chè vằng" ở các vùng địa lý khác nhau trên cả nước nhằm hoàn thiện cơ sở dữ liệu phân loại cho chi này tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho các nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng chuyên ngành:

  • Sinh viên và học viên ngành Dược học, Thực vật dược, Dược liệu học: Cung cấp tài liệu thực chứng về phương pháp giám định dược liệu bằng hình thái so sánh, kỹ thuật cắt nhuộm vi phẫu thực vật hai lá mầm và phương pháp phân tích bột hiển vi theo quy phạm.
  • Cán bộ kiểm nghiệm dược liệu: Cung cấp bảng dữ liệu và tiêu chí vi học cụ thể (lông che chở hình móc câu, mạch gỗ nan hướng tâm, tinh bột phiến lá, màu sắc bột) để kiểm tra tính đúng và phát hiện tạp nhiễm loài Jasminum pentaneurum trong các lô dược liệu Chè vằng thương phẩm.
  • Cơ sở sản xuất cao lá vằng: Cung cấp khóa nhận biết thực địa dựa vào cụm hoa, lá bắc, cành non và cuống lá để hướng dẫn người dân thu hái đúng nguồn dược liệu tự nhiên.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng đối chiếu hình thái, vi phẫu, bột dược liệu và quy trình hoàn nguyên mẫu hoa khô đun sôi trên ngọn lửa đèn cồn phục vụ định danh chi Jasminum.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài thực vật dễ bị thu hái nhầm lẫn với Chè vằng tại tỉnh Hòa Bình được định danh chính xác là loài nào?
Loài dễ nhầm lẫn mang ký hiệu mẫu CV02 được xác định tên khoa học là Jasminum pentaneurum Hand.-Mazz. (tên tiếng Việt là Nhài năm gân), thuộc chi Jasminum, họ Nhài (Oleaceae), qua đối chiếu với khóa định loại của Bùi Hồng Quang (2016) và các tiêu bản chuẩn WU0060942 (Đại học Wien), MNHN-P-P0023854, MNHN-P-P00887978 (Bảo tàng Lịch sử tự nhiên quốc gia Pháp).

2. Dấu hiệu vi học dưới kính hiển vi nào giúp phân biệt tức thì Chè vằng với Nhài năm gân?
Dấu hiệu then chốt nhất là lông che chở và mạch gỗ rải rác: Chè vằng hoàn toàn không có lông che chở ở cả cành, lá và bột dược liệu, đồng thời mô dày và phiến lá không chứa mạch gỗ; ngược lại, Nhài năm gân có lông che chở hình móc câu hiện diện ở cả cành, lá và bột, mô dày có mạch gỗ tròn tạo nan hướng tâm và phiến lá có mạch gỗ rải rác. Ngoài ra, tinh thể calci oxalat trong ruột cành Chè vằng tập trung thành từng đám, trong khi ở Nhài năm gân là các tinh thể cầu gai phân bố đơn độc rải rác.

3. Kích thước tinh thể calci oxalat và hạt tinh bột của Chè vằng trong nghiên cứu được đo đạc cụ thể là bao nhiêu?
Trong bột cành Chè vằng, tinh thể calci oxalat hình cầu gai có đường kính 17,5 µm; hạt tinh bột đơn hình chuông hoặc gần tròn có rốn rõ ở chính giữa kích thước 10-20 µm. Trong bột lá Chè vằng, tinh thể calci oxalat hình cầu gai có đường kính 12,5-15 µm, các hạt tinh bột có hình chuông hoặc hình thận.

4. Ngoài thực địa, cụm hoa và lá bắc của Chè vằng khác biệt như thế nào so với loài Nhài năm gân?
Hoa Chè vằng mọc đơn độc hoặc thành cụm xim thưa chỉ từ 1-5 hoa ở đỉnh cành hoặc nách lá, lá bắc cụm hoa dạng hình đường dài 1-13 mm, đài hình chuông không lông; trong khi hoa Nhài năm gân mọc thành cụm nhiều hoa tụ lại tạo thành hình đầu dày đặc, lá bắc cụm hoa có dạng lá hình bầu dục kích thước lớn dài 1-2 cm, đài hình chén có lông.

5. Kỹ thuật nhuộm kép vi phẫu trong khóa luận sử dụng những hóa chất và quy trình cụ thể nào?
Sau khi cắt lát bằng microtome cầm tay, mẫu được ngâm dung dịch Carnoy I trong 24 giờ rồi chuyển sang cồn 70°; tẩy nội chất bằng dung dịch cloramin 5% hoặc nước Javen trong 20-30 phút; rửa nước rồi ngâm acid acetic 1% trong 10-15 phút để tẩy clo dư; nhuộm tế bào vách cellulose bằng dung dịch đỏ carmin 0,5% trong 5 phút, sau đó nhuộm tế bào hóa gỗ/hóa bần bằng xanh methylene 1% trước khi đậy lamen và soi hiển vi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Chí Thanh đã xác định chính xác tên khoa học của mẫu Chè vằng thu tại Hòa Bình là Jasminum nervosum Lour. và loài dễ nhầm lẫn là Jasminum pentaneurum Hand.-Mazz. Công trình đã thiết lập bộ dữ liệu thực nghiệm toàn diện so sánh chi tiết về hình thái cơ quan sinh dưỡng - sinh sản, giải phẫu vi phẫu cành lá và đặc điểm hiển vi bột dược liệu giữa hai loài. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống tiêu chí khoa học rõ nét và có tính định chuẩn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ công tác giám định, kiểm nghiệm và tiêu chuẩn hóa dược liệu Chè vằng trong nghiên cứu và thực tiễn sản xuất.