MỞ ĐẦU Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam là một trong những quốc gia được đánh giá là nơi có nền “văn minh cây cỏ”, “văn minh tre gỗ”. Do nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thực vật phát triển nhiều về số lượng và phong phú về chủng loại, nên từ xa xưa đời sống của người Việt Nam nói chung đã gắn bó mật thiết với các loài thực vật. Sự gắn bó mật thiết với thực vật đã được thể hiện từ trong văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt Nam, từ hoạt động sản xuất (trồng trọt) đến đời sống vật chất (ăn mặc, cư trú, đi lại, đồ dùng.) và cả đời sống tinh thần (tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật. Như vậy, việc sử dụng thực vật nói chung hay lá cây nói riêng trong chăm sóc sức khỏe cũng là một yếu tố văn hóa khởi nguồn từ nền “văn hóa thực vật” này.
Khi y học hiện đại chưa phát triển ở Việt Nam thì việc sử dụng lá cây trong y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe cho con người là rất phổ biến. Lá của các loại cây thuốc và các loại cây thông thường được sử dụng phổ biến khắp cả nước và áp dụng cho mọi lứa tuổi, mọi giới tính khi có nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe. Trải qua thời gian, cùng với sự tiến bộ của y học và khoa học công nghệ, việc sử dụng các loại lá trong chăm sóc sức khỏe đã giảm dần. Chỉ còn người già hoặc trung niên sống ở vùng nông thôn hay ở miền núi thi thoảng vẫn còn dùng lá thuốc để chữa bệnh.
Chè vằng (hay còn gọi là lá vằng) có tên khoa học là Jasmium nervosum Lour. thuộc họ Nhài (Oleaceae). Loài cây này hiện nay mọc hoang trên toàn nước Việt Nam, từ Bắc chí Nam. Tại miền Bắc có ở Hòa Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An,.
Tại miền Nam, đồng bào thường dùng dây vằng để đan rế và đánh dây thừng vì dây vằng vừa dai lại vừa dẻo. Từ lâu, ở miền trung Chè vằng được người dân biết đến như một loại nguyên liệu để nấu uống thay trà. Cây chè vằng mọc khắp nơi từ rừng sâu đến vườn nhà. Người ta hái về cắt nhỏ, ngắn bằng gang tay rồi đem phơi nắng, nấu uống giải khát hàng ngày.
Theo dân gian, uống lá vằng sẽ giúp thanh nhiệt, kích thích tiêu hóa, tạo giấc ngủ sâu và tốt cho phụ nữ sau khi sinh. Để đáp ứng nhu cầu thị trường, Chè vằng thu hái tự nhiên và chế biến thành cao lá vằng (sản phẩm từ Chè vằng) thuận tiện hơn cho việc sử dụng. Đây là sản phẩm rất được người dân khắp nơi trên cả nước yêu chuộng và tin dùng, nó được xem như là đặc sản của vùng đất miền Trung. Chính những sản phẩm này đã góp phần cải thiện đời sống của người dân.
1 Tuy nhiên thực tế cho thấy, người dân vẫn thường thu hái nhầm với loài khác cùng chi Jasminum L. Do đó, để bổ sung cơ sở dữ liệu về thực vật, vi phẫu và bột dược liệu phục vụ công tác định danh và kiểm nghiệm tính đúng của dược liệu Chè vằng, tôi tiến hành khóa luận: “ Nghiên cứu đặc điểm hình thái, vi phẫu và bột dược liệu loài Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) và loài nhầm lẫn thu thập tại tỉnh Hòa Bình” Với các nội dung chính sau: - Xác định tên khoa học của loài Chè vằng. - Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Chè vằng (Jasminum nervosum Lour.) và loài dễ nhầm lẫn thuộc chi Jasminum thu thập ở tỉnh Hòa Bình. - Nghiên cứu đặc điểm vi phẫu Chè vằng và loài dễ nhầm lẫn.
- Nghiên cứu đặc điểm bột dược liệu chè vằng và loài dễ nhầm lẫn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về chi Jasminum L. trên thế giới 1.
Nghiên cứu phân loại, thành phần loài chi Jasminum L. Chi Jasminum đã được C. Linnaeus (1753)[31] đặt tên và mô tả lần đầu trong cuốn “Species plantarum”. Ông đã mô tả và công bố 6 loài, trong đó bốn loài có ở Ấn Độ (J.
humile), 1 loài ở châu Âu, châu Úc (J. Thời gian này, ông cũng công bố 2 loài nhưng lại xếp vào chi Nyctanthes (Nyctanthes sambac, N. undulate sau này trở thành tên đồng nghĩa của loài J. Cách chia nhóm của C.
Linnaeus tuy chỉ là bước khởi đầu về cách phân chia các loài, nhưng cũng chính là tiền đề cho các nhà nghiên cứu sau này, khi nghiên cứu về chi Jasminum áp dụng và sắp xếp các loài của chi cho nghiên cứu của mình. De Candolle (1844)[17] trong công trình nghiên cứu của De Candolle về chi Jasminum được mô tả khá kỹ các đặc điểm hình thái: Lá đơn lá mọc đối hiếm khi cách, cuống lá có khớp ở giữa hay lá có 3-7 lá chét hoặc lá kép lông chim. Cụm hoa dạng xim, hình chùm, nhiều hoa. Đài dạng chuông, 5-8 thùy có răng ngắn hay hình dùi, hình ống, 5-8 thùy phẳng, xiên hay vặn xoắn.
Tràng màu trắng hoặc vàng, đôi khi pha tía. Nhị 2, đính trên ống tràng, không thò ra ngoài. Bầu 2 ô, vòi nhụy đơn giản, núm nhụy 2 thùy. De Candolle đã dựa vào đặc điểm cách mọc lá, độ dài của thùy đài để chia các loài thuộc chi Jasminum vào 4 nhánh chính: • Nhánh Unifoliolata: Bao gồm các loài lá đơn chủ yếu là mọc đối, hiếm khi mọc vòng, cuống lá có khớp, gồm 1 lá chét.
Trong nhánh này ông lại chia thành 2 nhóm nhỏ là nhóm các loài có thùy đài hình dùi gồm 53 loài và nhóm các loài có thùy đài cụt hay có răng nhỏ, gồm 6 loài. • Nhánh Trifoliolata: Bao gồm các loài lá kép 3 lá chét, lá mọc đối, đài có răng, hoa màu trắng, gồm 17 loài. • Nhánh Alternifolia: Bao gồm các loài lá kép lông chim, lá mọc cách, hoa màu vàng, gồm 9 loài. • Nhánh Pinnatifolia: Bao gồm các loài kép lông chim lẻ, lá mọc đối, hoa màu trắng, gồm 5 loài.
Nghiên cứu của De Candolle về chi Jasminum là cơ sở về cách phân chia các nhánh, sử dụng đặc điểm cách mọc lá để sắp xếp các loài thành các nhóm. • Nhóm chính thứ 2: bao gồm tất cả các loài lá kép (13 loài). Kobuski (1932)[25] dựa trên nền tảng nghiên cứu của De Candolle (1844), sử dụng đặc điểm cách mọc lá của các loài, chia các loài trong chi Jasminum ở Trung Quốc. Green (1997)[21] đã nghiên cứu các loài trong chi Jasminum thuộc nhánh Pinnatifolia theo quan điểm của De Candole (1844) với những đặc điểm lá kép lông chim, hoa màu trắng.
Tuy nhiên theo nghiên cứu của P. Green, nhánh Pinnatifolia với những đặc điểm lá đơn, lá kép 3 lá chét, chủ yếu là lá kép lông chim lẻ; cụm hoa dạng xim, hình ngù… là những đặc điểm điển hình của chi Jasminum và ông đã đặt lại tên nhánh Pinatifolia thành tên nhánh mới là Jasminum gồm 8 loài và 3 dưới loài. Như vậy dựa trên cơ sở nghiên cứu của De Candolle (1844), P. Green đã đặt lại tên, bổ sung các đặc điểm hình thái, công bố nhánh Jasminum có 8 loài, 3 dưới loài.
Green (2001)[22] khi nghiên cứu về nhánh Trifoliolata thuộc chi Jasminum trên các vùng bao gồm phía tây Australia, Đông Nam Á và Trung Quốc, đã công bố 6 loài và 2 thứ, 3 dưới loài. Green (2003)[20], nghiên cứu họ Oleaceae ở vùng lục địa Ấn Độ, ông đã chia các loài trong chi Jasminum thành 4 nhánh, ông dựa vào đặc điểm hình thái lá, cụm hoa, đài và tràng. Green đã tiến hành nghiên cứu họ Oleaceae ở nhiều vùng trên thế giới. Riêng những nghiên cứu về chi Jasminum có rất nhiều công trình đã công bố, trong đó có nhiều vùng lân cận Việt Nam.
Ông cũng đồng quan điểm với De Candolle (1844) dựa vào đặc điểm hình thái, như cách mọc lá, để chia các nhánh, sử dụng các đặc điểm thùy đài, tràng để phân chia các loài trong các nhánh. Albert (2000)[29] khi nghiên cứu dữ liệu trình tự gen ADN của các loài thuộc họ Oleaceae và các loài thuộc họ khác có quan hệ gần gũi với họ Oleaceae, tác giả đã xây dựng mối quan hệ phát sinh chủng loại của họ Oleaceae và công bố hệ thống. Green(2004)[24] nghiên cứu hệ thống họ Oleaceae ông cũng đồng quan điểm của Wallander E. Albert (2000) và trong nghiên cứu của mình ông cũng công nhận 3 phân tông mới theo hệ thống của Wallander E.
Như vậy quan điểm của P. Green được khẳng định chắc chắn hơn qua các nghiên cứu hình thái và sinh học phân tử của các tác giả đã sắp xếp chi Jasminum thuộc tông Jasmineae và họ Oleaceae. Theo hệ thống phân loại Takhtajan (2009)[28], chi Jasminum L. thuộc: Giới: Plantae Ngành: Ngọc Lan Lớp: Magnoliopsida Bộ: Hoa môi (Lamiales) Họ: Nhài (Oleaceae) Tông: Jasmineae Chi: Jasminum Loài: Jasminum nervosum Lour.
Phân bố chi Jasminum L. Chi này có phân bố tự nhiên tại Châu Phi, Nam Trung Quốc, Đông Nam Á trải dài đến Tây Á như là Comoros, Congo, Gabon, Ghana, Guinea, Nam Trung Quốc Trung tâm, Đông Nam Trung Quốc, Hải Nam, Ấn Độ, Iran, Bờ Biển Ngà, Jawa, Philippines, Đài Loan, Campuchia,Việt Nam,… Sau đó di cư đến khu vực Địa Trung Hải cũng như Trung Mỹ và một số khu vực thuộc Nam Mỹ như là Đông Bắc Argentina, Bahamas, Bolivia, Đông Bắc Brazil, Đông Nam Brazil, Bulgaria, Đảo Caroline, Đảo Cayman, Anh, Bồ Đào Nha, Đông Nam Mexico, Nam Tư,…[19, 23] 5 Hình 1. 1 Phân bố chi Jasminum L[33]. Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vi phẫu, bột dược liệu 1.
Đặc điểm hình thái Căn cứ vào các bản mô tả Bùi Hồng Quang (2016)[11] và Flora of China[27], chi Jasminum L. có đặc điểm hình thái như sau: Cây bụi leo ít gai, cao 1-5 m, nhẵn hoặc có lông thưa. Cành nhánh dạng ống. Lá đơn, mọc đối; cuống lá 2-10 mm, có đốt; phiến lá hình trứng hình mũi mác, 2,5- 13 × 0,7-6 cm, hình quả trám, có 3 hoặc 5 gân từ gốc, gốc rộng hình mác đến cụt, hiếm khi hình tim, đỉnh nhọn đến mũi nhọn.
Hoa ở đầu hoặc ở nách, đơn độc hoặc trong các bao có 3-5 hoa; lá bắc dài hẹp, 1-13 mm. Đài hoa 7 hoặc 8 thùy, dài hẹp, (0,5-) 1-1,7 cm, thường mở rộng ra trong quả. Tràng hoa màu trắng, hình bầu dục -thuôn hoặc hình đường; không lông, mép nguyên; ống tràng 1,3-2,6 cm; thùy 8-10, hình mác, (0,8-) 1,5-2,5 cm. Quả mọng, mọc kép ( 2 phân quả) hoặc 1 nửa không phát triển (vì đây là đặc trưng của chi), hình cầu, 0,7-2 cm × 5-13 mm.
Đặc điểm vi phẫu. Sandip Kumar Pahari (2017)[26] “Đánh giá dược lực học và dược tính của của rễ cây Jasminum multiflorum Andr.” đã có nghiên cứu về vi phẫu của rễ và thông qua lát cắt ngang của rễ đã nêu ra các đặc điểm của vi phẫu rễ cây Jasminum multiflorum 6 Andr.