Chương 1 TỎNG QUAN 1. So’ lược về cây ót 1. Nguồn gốc và sụ-phân bố ơt là một phân trong âm thực loài người ít nhất là 7500 năm trước Côrrn Nẹuvên và có lẽ sớm hon. Có những bằng chứng khảo cổ ở các khu vực ở Tây Nam Ecuador cho thây ớt đã được thuần hóa hon 6000 năm về trước (Perry, L.
et al, 2007) và li một trong những loại cây trồng đầu tiên ở Châu Mỹ. Người ta cho rằng ớt đã được thuần hóa ít nhất năm lần bời những cư dân tiền sử ở các khu vực khác nhau của Nam vả Bấc Mỹ, từ Peru ở phía Nam đến Mexico ở phía Bắc và một số vùng của các bang Colorado vả New Mexico bởi các dân tộc Pueblo cổ đại (Hjelmqvist, Hakon, 2007). Trong cuốn sách của Svensk Botanisk Tidskriíì được ra mắt vào năm 1995, Giáo sư Hakon Hjelmqvist đã có một bài viết về ớt trong khoảng thời gian ở Columbia. Cụ thể trong một nơi khai quật khảo cổ tại St.
Botulf ở Lund, các nhà khảo cổ tuyên bố đã tìm thấy một loài cây thuộc loài Capsicum frutescens trong một lớp đất có niên đại thuộc thế kỷ 13. Hjelmqvist cũng tuyên bố rằng giống Capsicum đó đã được miêu tả bởi Therophrasteus người Hy Lạp (370 - 286 TCN). Ông cũng đề cập đến các nguồn cổ khác. Nhà thơ La Mã Martialis (khoảng thế kỷ I) đã mô tả "Pipervee crudum" (ớt tươi) có hình dài và có nhiều hạt.
Các mô tả này không phù hợp với hình dạng của tiêu đen {Piper nigrum), loại cây này không mọc tốt trong điều kiện khi hậu ôn đới tại châu Ầu (Heiser Jr. Từ Mexico, vào thời điểm đang là thuộc địa của Tây Ban Nha, cũng là một nước kiểm soát thương mại với các nước chau A, ơt đã nhanh chong được chuyên qua Philippines và sau đó là Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản với sự trợ giúp của các thủy thủ châu Âu. Gia vị mới này đã nhanh chóng được sử dụng ưong việc chế biến thức ăn của các quốc gia này (Eshbaugh, W. Hiẹn nay, An Độ lả nước săn xuât ớt lớn nhất the giới với khoảng tổng sân lượng 1 triệu tân mỗi năm, nơi mả chi riêng Chợ Guntur (lớn nhất cháu Á) đã có 1 triệu bao ớt (100 Ib trên mỗi bao) (Collingham, Elizabeth, 2006).
Đặc điểm sinh thái - Nhiẹt độ: ơt là cây có nguôn gốc ở vùng nhiệt đới nên yêu cẩu nhiệt độ cao trong suôt quá trình sinh trường. Khả năng chịu hạn, chịu nóng khá nhưng khá năng chiu rét và úng kém. Phạm vi nhiệt độ cho ớt sinh trường và phát triển từ 15 - 35 c, bắt đầu nảy mầm ờ 15°c nhưng nảy mầm nhanh ờ 25 - 30°C. - Anh sáng: ơt là cây có nguôn gốc vĩ độ Nam nên ưa cường độ iah sảng mạnh.
Hâu hêt các giông ở nước ta ưa ánh sáng ngày dài (đòi hỏi thời gian chiếu sáng 12-13 giờ/ngày) và cường độ chiếu sáng mạnh, cường độ ánh sáng -0 - 50 ngàn lux có thể thỏa mãn nhu cầu trong thực tế ớt có thể được cường độ ảnh sáng mạnh đen hàng vạn lux. - Nước, độ ẩm: Ớt là cây có quả mọng nước, cành lá nhiều nên yêu cẩu có 1 lượng nước lớn và độ ẩm cao từ 70 - 85% tùy vào giai đoạn sinh trưởng. - Dinh dưỡng và đất trồng: a / Dinh dưỡng: ớt là cây có năng suất cao, có thời gian sinh trưởng dài lại vừa ra hoa ra quả, quả lớn cùng một lúc do vậy yêu cầu nhiều dinh dưỡng. b / Đất trồng: ớt không kén đất nhưng tốt nhất là ưồng trên đất cát pha, thịt nhẹ, đất phù sa ven sông suối.
pH thích hợp: 5,5 - 6,5 (Trường Trung học Nông nghiệp và PTNT Quảng Trị, 2013). Đặc điểm hình thái Ớt là cây 2 lá mầm, thân gỗ, trên thân có các cành phát triển mạnh và đối xứng hoặc so le tùy giống. Rễ thuộc loại rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh về bốn phía. Có 2 loại rễ: rễ chính (rễ trụ) và rễ phụ (rễ bên).
Lá ớt thường mọc xoắn trên thân lá chính, lá có nhiều dạng khác nhau, nhưng thường gặp nhất là loại lá mác, mép lá ít răng cưa. Hoa: các hoa hoàn thiện và quả thường được sinh đơn độc trên từng nách lá. Hoa có thể mọc thẳng đứng hoặc buông thòng. Trên cuống hoa thường không có li tầng, hoa thường có màu ưắng, một số giống có màu trắng sừa.
xanh lam, màu tím. Quả thuộc loại quả mọng có nhiều hạt và chia làn; nhiều ngăn (Trường Trung học Nông nghiệp và PTNT Quảng Trị, 2013). Hạt ớt nhỏ dẹp cỏ dạng ừòn, màu vàng rơm, 4 hạt có chiều dài khoảng 3 - 5 mm, 1 gram ớt cay khoảng 220 hạt (Lương Nguyễn Thu Tâm, 1996-2001). Giá trị kinh tế cây ớt ơt la cây gia vị quen thuộc của người dân.
Ớt cay xay thành bột lá một mặt hàng xuât khâu có giá trị trong nhiều năm gần đây. Nếu chế biến được thảnh tinh dẩu ơt thi gia tri xuât khâu lại tăng lên gấp bội lần. Mỗi tấn ớt bột xuất khẩu ioạ. 1 thu được từ 1.500 rup, tương đương với 7 tấn đạm urê hoặc 17 - 18 tẩn thóc.
Đó là một mặt hàng xuât khâu có giá trị cao và ổn định về giá cả trong vòng nhiều năm trở lại đây. Hiện nay ớt được xuất khẩu dưới dạng muối mặn (10 - 20% muối hoặc quả khô băng con đường xuất khẩu tiểu ngạch ra nước ngoài. Xuất khẩu qua công ty rau quả mồi năm khoảng 500 - 700 tấn ớt quả. Một sào trồng ớt thu lãi từ 1 - 1.6 triệu đồng/vụ.
Ớt là nguyên liệu trong công nghiệp chế biến thực phẩm, làm gia vị. Ót là chất cay tan trong nước và không bị mất mùi vị do đun nấu hoặc bảo quàn. Cây ớt rất dễ tinh chế, kỹ thuật gieo trồng và đầu tư cho sản xuất ít tốn kém và phức tạp so với một số cây trồng khác, ớt được trồng ttên nhiều loại đất khác nhau, nếu chăm sóc đúng kỹ thuật thì trên đất kém màu mờ vẫn cho năng suất, hiệu quà kinh tế lớn hơn một số loại cây màu, cây công nghiệp khác cùng trồng trên một loại đất đấy. Vì vậy việc đẩy mạnh trồng ớt là điều kiện sử dụng có hiệu quả các loại đất, góp phần cải tạo đất trong một chế độ luân canh thích hợp đồng thời tận dụng được sức lao động ở địa phương để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện.
Tình hình sản xuất ớt 1. Tình hình sản xuất ớt trên thế giới Theo tổ chức Nông lương thế giới (FAOSTAT, 2014) cây ớt được xem là một trong sô những cây trông quan trọng ơ cac vung Nhiẹt dơi.3, diẹn tích trong ớt trên thế giới vào khoảng 1.000 ha cho mục đích lấy quà tươi và khoáng 1.000 ha để làm ớt khô. Năm 2009 diện tích trồng ớt ưèn thế giới 1,81 triệu ha cho mục đích lấy quả tươi, với sản lượng 28,07 triệu tấn. Diện tích sàn xuất ớt khô 1,91 triệu ha, với sản lượng 31,38 triệu tấn.
Các nước nhập khẩu và xuất khẩu ớt quan trọng nhất bao gồm: Trung Quốc, Án Độ, Mêxicõ, Pakistan, Thái Lan và Thô Nhĩ Kỳ. 5 Tuy nhiên, ve năng suât, Châu Á chi có năng suất dạt loại trung binh, với trên 17,5 tân/ha; Châu Phi có năng suất rẩt thấp, chỉ 7,9 tấn/ha vào nảm 2012: Chấu Áu, do ap dụng cac cong nghẹ ky thuật tiên tiên trong canh tác, nên ớt cho nắng suất rất cao, gấp 1,5 năng suất trung bình của thế giới và gấp 3 lần Châu Phi nám 2012; ngoải ra. Châu Đại Dương cũng có năng suất trung bình ở mức khá cao trên 20 tấn/ha. Một số nươc co san lượng ớt cao như Trung Quốc, Mexico, Indonexia, Thổ Nhĩ Kỳ.
Trong do, Trung Quoc là nước có sản lượng ớt cao nhất thế giới, sản lượng ớt hàng nãm cùa nươc nay chiêm khoảng 30% sản lượng ớt của thế giới. Hàn Quốc với món ãn iruyền thông là Kim chi, ớt là thành phân không thể thiếu được, ớt là loại rau chú 'ực của nước này chiêm 60% diệ tích trồng rau và 40 % tổng sản lượng. Hàng năm Hàn Quốc nhập khâu 12.000 tân ớt, lượng ớt nhập khẩu của nước này không ìớn, cao nhất là 53. Ở khu vực Đông Nam Á, Indonesia và Thái Lan là hai nước xuất khẩu lớn nhất, Indonesia có diện tích trồng ớt lớn, sản lượng ổn định cao nhất vào năm 2011 đạt 1,9 triệu tấn.
Singapo là nước nhập khẩu ớt lớn nhất Đông Nam Á với mức nhập khẩu hàng năm trên dưới 10.000 tấn, chiếm 96% (năm 2007) lượng nhập của cà Đông Nam Á Hiện nay, Án Độ là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới chiếm 25% tổng sản lượng toàn cầu, tiếp theo là Trung Quốc 24%, Tây Ban Nha 17%, Mexico 8%. Các nước nhập khẩu lớn nhất thế giới là các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất (ƯAE), liên minh Châu Ầu (EU), Sri Lanca, Nhật Bàn, Hàn Quôc (FAO STAT, 2014). Tình hình sản xuất ót trong nước Ở Việt Nam việc canh tác ớt chưa được quan tâm, phần lớn canh tác lẻ tẻ, không đầu tư thâm canh cao nên năng suât thâp, thường chỉ đạt 7-10 tân ớt tươi/ha. Các tỉnh có diện tích canh tác và sản lượng cao như Binh Tri Thien, Vĩnh Phu, Ha Bắc, Hà Sơn Bình, Thái Bình và Nghệ Tỉnh (Mai Thị Phuơng Anh, 1999).
Giai đọan trước năm 1990, chỉ tính riêng các tỉnh miền Trung vùng sản xuất ớt có khoảng 3.000 ha, có năm lên đến 5.700 ha, 1988 đàm bào mồi năm xuất khẩu sang thị trường Liên Xô (cũ) 4.500 tấn ớt bột. ở Thanh Hóa, cày ớt được trồng tập trung ở một số huyện như Thiệu Yên, Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Thọ Xuân. Năm 1983, toàn tỉnh thu được 50 tấn ớt kho, năm 1984 là 100 tấn (Mai Thị Phương Anh, 1999). 6 Giai đoạn sau năm 1990, Sự dô vỡ của thị trường Đóng Ầu, dã lảm xáo ưộn tình hình sản xuất tại các vùng chuyên canh, diện tích ớt thu hẹp lại.
Tuy nhiên, những nam gan đay, diẹn tích ớt xuât khâu vẫn duy tri ở một số dịa phương có truyền thống trông trọt lâu đời. ơ Quảng Trị, những năm gần đây trồng tới 1.000 ha ớt cay dể xuất khâu và đem lại hiêu quả kinh tế cao hơn trồng lúa 3 lần. Công ty xuất nhập khẩu rau qua Quang 1 n môi năm xuât khoảng 300 tấn ớt tươi sang thị trường Đài Loan, nhu cẩu của thị trường này rất lớn nhưng chưa đáp ứng được (Nguyễn Hoàn, 2000). 1 rong 5 năm từ 2006 đến 2010, Tổng công ty rau quả Việt Nam đã x_uÁ‘.
sang thị trường Nga 23.920 tấn ớt bột, trung bình mỗi năm 4. diện tích trông ớt cúa nước ta còn rât yêu chưa được quy hoạch triệt để.