MỞ ĐẦU Đặt vẫn đề Mit (Artocarpus heterophyllus Lam.) thuộc họ dau tam (Moraceae) có nguồn gốc từ phía Tay, An Độ và được trồng phổ biến trên thế giới (Haq, 2006). Tại Việt Nam, mit được trồng phố biến từ Bắc vào Nam, trừ những vùng cao ở miền Bắc. Diện tích mít cả nước năm 2020 là 59.705 ha, tăng 2,9 lần so với năm 2017 (Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, 2021). Các giống mít được trồng phổ biến hiện nay như mít Nghệ, mít Tổ nữ, mít Mã Lai.
Mít Thái siêu sớm có nguồn gốc từ Thái Lan rất được nông dân ưa chuộng và được trồng với quy mô lớn tại các tỉnh của ĐBSCL vì mít Thái rất dé trồng, dé chăm sóc, ít tốn chi phí, thời gian sinh trưởng ngắn, nhanh cho trái, năng suât cao, đậu trái quanh năm và mang lại hiệu quả kinh tê cao. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây bệnh đen xơ trên mít xuất hiện tại nhiều khu vực thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long. Bệnh đen xơ khó phát hiện vì trái vẫn sinh trưởng bình thường, nhưng khi thu hoạch trái và bé ra thì thấy xuất hiện vết bệnh màu nâu đen ở xơ, múi và múi mít không ngọt. Bệnh làm giảm phẩm chất trái dẫn đến giảm giá mít thương phẩm (Cục Bảo vệ thực vật, 2021).
Đã có một số nghiên cứu về bệnh được thực hiện như Lê Văn Bé và ctv (2017) đã nghiên cứu về biện pháp hạn chế đen xơ nhưng chưa xác định tác nhân gây bệnh. Năm 2021, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hậu Giang đã xác định bệnh đen xơ trên mít Thái tại Hậu Giang là do vi khuan Pantoea stewartii nhưng chưa có nhiều nghiên cứu công bồ sâu hơn về đặc điểm sinh học, sinh hóa cũng như phương pháp phòng trừ bệnh này. Ngày nay, một số quốc gia phát triển và đang phát triển như Brazil, Mỹ, Trung Quốc, An Độ và Nam Mỹ có những chính sách hỗ trợ chiến lược cho các ứng dụng công nghệ nano trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm (Chen va ctv, 2011). Vật liệu nano trong nông nghiệp đang được sử dụng dưới nhiều dang khác nhau như phân bón nano, thuốc diệt cỏ nano, thuốc diệt nắm nano, thuốc trừ sâu nano và chất kích thích sinh trưởng nano nhờ các tính chất sinh hóa ưu việt như hoạt tính sinh học cao, liều dùng nhỏ và độc tính thấp (Ranjan và ctv, 2017).
Song các nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam còn hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn, đề tài “Nghiên cứu tác nhân gây bệnh đen xơ mít thái (Artocarpus heterophyllus Lam.) và khả năng phòng trừ của một số vật liệu nano” được thực hiện nhằm có những hiểu biết thêm về bệnh den xơ cũng như hướng phòng trừ, khắc phục thiệt hại mà bệnh gây ra. Mục tiêu đề tài Xác định được tác nhân gây bệnh đen xơ mít Thái, khả năng gây hại trên các giống mít khác và xác định được khả năng phòng trừ của một số vật liệu nano. Yêu cầu đề tài - Thu thập được các mẫu bệnh đen xơ mít Thái tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam như Lâm Đồng, Đồng Nai, Long An và Tiền Giang.
- Phân lập và định danh được tác nhân gây bệnh đen xơ mít bằng đặc điểm sinh hóa và kỹ thuật sinh học phân tử. - Đánh giá khả năng gây hại của tác nhân gây bệnh trên một số giống mít khác. - Đánh giá được khả năng phòng trừ của một sô vật liệu nano trong điêu kiện phòng thí nghiệm và ngoài đồng. Giới hạn đề tài Đề tài được thực hiện từ tháng 02 đến tháng 12 năm 2022.
Thu mẫu bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam như Lâm Đồng, Đồng Nai, Long An và Tiền Giang. Chương Ï TONG QUAN 1. Tong quan về cây mit 1. Phan loai khoa hoc Giới (Kingdom): Plantae Ngành (Divition): Magnoliophyta Lớp (Class): Rosales Ho (Family): Moraceae Giống (Genus): Artocarpus Loai (Species): A.
heterophyllus Mit thuộc chi Artocarpus (ho Moraceae) là một trong những loại cây ăn qua nhiệt đới. Tên đồng nghĩa: A., Soccus arboreus major Rumph., Polyphema jaca Lour. Trong đó Artocarpus heterophyllus Lamk được chấp nhận và sử dung rộng rãi nhất (Shamsudin và ctv, 2009). Nguồn gốc, phân bố và giống 1.
Nguồn gốc và phân bố Mit có nguồn gốc trong các rừng mưa ở vùng Western Ghast của An Độ, sau đó nó được trồng nhiều ở các quốc gia láng giềng Nam, Đông Nam Châu Á và miền Nam Trung Quốc (Haq, 2006). Theo Haq (2006), cho rằng mít là cây trồng quan trọng của khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây mít là cây lâu năm, cây có kích thước trung bình lớn thường cao khoảng 10 - 20 m và cho trái quanh năm. Ở Việt Nam, mít được trồng ở vùng núi dưới 1000 m và các tỉnh trung du, đồng bằng va ven biển.
Cây ưa vùng khí hậu nhiệt đới nóng và 4m, nhiệt độ trung bình khoảng 23 - 26°C, lượng mưa trung bình năm từ 1500 mm trở lên và mọc được trên nhiều loại đất khác nhau (Cao Việt Hà và Nguyễn Thi Thu Hiền, 2021). Giống mít Mít được phân thành hai nhóm: nhóm có thịt quả mềm, nhiều nước và nhóm có thịt quả chắc, giòn vả ít ngọt hơn. Ngoài ra còn có các loại trung gian khác (Hossain va ctv, 2006). * Đặc điểm một số giống mít ở ĐBSCL Theo Vũ Công Hậu (2000), đặc điểm của một số giống mít được mô tả như sau: Mit tố nữ: năng suất cao, trọng lượng trái trung bình 800 - 1.
Cơm nhão, vi ngọt, béo, có mùi thơm đặc trưng. Mit nghệ siêu sớm: có nguồn sốc Thái Lan. Trai khi chín nặng từ 10 - 15 kg có trái quanh năm. Mít nghệ cao sản dòng M99 - 1: Năng suất rất cao, chất lượng ngon, tỷ lệ cơm 40 - 48%, màu vàng tươi, thích hợp ăn tươi hay chế biến.
Mít Mã Lai: Năng suất cao, trái có trọng lượng trung bình 2 - 3 kg/múi thơm, cơm hơi nhão, vị ngọt. Mít tứ quý da xanh có trái quanh năm, rất sai, từ gốc đến ngọn, da trái màu xanh. Đặc biệt khi chín có mùi thơm phức. Khi xẻ ra có màu vàng cam, ít xơ, hạt nhỏ, vi ngọt lim và thơm rất hấp dẫn.
Mit Thái siêu sớm xuất xứ từ Thái Lan, với nhiều ưu điểm như thời gian cho thu hoạch nhanh, năng suất cao, múi mọng, giòn ngọt, hạt nhỏ hơn mít nghệ. Khi cắt ra sẽ thấy cùi mít to hơn cùi mít nghệ, có mủ, nhưng khi gọt bỏ cùi thì múi mít không có mủ, khi ăn không dính tay và miệng. Độ Brix trung bình đo được khoảng 21,2% (Quan Thị Ái Liên, 2010). Giá trị dinh dưỡng và gia trị kinh tế 1.
Giá trị dinh dưỡng Mit là loại cây trồng giàu khoáng chat và vitamin. Quả chín rất giàu vitamin A, giúp duy trì thị lực. Phần thịt quả ăn được của mít chiếm 25 - 40% trọng lượng quả, phan xơ không ăn được giàu protein (APAARI, 2012). Các loại đường chủ yếu là fructose, glucose và sucrose có trong các bộ phận của cây, trừ vỏ cây.
Các acid béo là acid capric, aicd myristic, aicd lauric, acid palmitic, acid oleic, acid stearic, acid linoleic, acid arachidic có ở nhiều bộ phận của cây. Thanh phần các chất của mít (APAARI, 2012). Ngoài ra, giá trị dinh dưỡng của mít có chứa 95 kcal năng lượng, 23,5 g carbohtdrate, protein là 1,72 g, chất béo là 0,64 g và chất xơ là 1,5 g. Mit còn cung cấp vitamin A, vitamin C, vitamin E, vitamin B9, vitamin B3, vitamin B6 và bé sung thêm một số nguyên tố thiết yếu khác như Na, K, Ca, Fe, Mg, Mn, P, Se, Zn.
Giá trị kinh tế Theo APAARI (2012), ở Đông Nam Á mít được sản xuất nhiều ở các nước Bangladesh, An Độ, Myanmar, Nepal, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quéc, Philippines, Indonesia, Malaysia va Sri Lanka. Bên cạnh đó, mit cũng được trồng ở các quốc gia khu vực Đông Phi và các quốc gia ở vùng Caribean như Jamaica. Mít là một trong ba loại quả mang ý nghĩa tốt lành của Tamil Nadu ở Ấn Độ cùng với xoài và chuối. Assam và Tripura là hai khu vực sản xuất mít lớn ở Ấn Độ, hàng năm tại bang Assam có sản lượng ước tính khoảng 175.
Tại Bangladesh, mít được công nhận là trái cây đại diện cho quốc gia VỚI tổng diện tích trồng khoảng 79.000 ha mít, đạt sản lượng 1. Năng suất mỗi hecta là 17 tan, có thé tăng 3 - 5 lần nếu vườn được thương mại hóa và hoạt động quản lí thích hợp và chuyên sâu. Mít được sản xuất với quy mô lớn ở Dhaka, Gazipur, Tangail, Khagrachari, Rangamati, Mymensingh, Moulvibazar, Narsingdi, Dinajpar va Rangpur. Madhopur là trung tâm của khu vực trồng mít chất lượng tốt nhất (Hossain, 2013).
Theo Hoàng Quốc Tuấn (2011), mít được xem là loại trái cây đặc sản của vùng nhiệt đới. Tại Việt Nam mít được trồng khắp cả nước nhưng tập trung và có hiệu quả kinh tế cao là ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.300 ha trồng mít với sản lượng 109. Ở miền DNB có khoảng 4.620 ha điện tích trồng mít, có trên 67% có diện tích trồng mít nhỏ hơn 0,5 ha. Lê Văn Bé và ctv (2017) cho rằng mít Thái có nguồn gốc Thái Lan, đễ trồng, năng suất cao, cho trái sớm (1 - 2 năm trồng), thịt trái có màu vàng đậm, chất lượng tốt và giá cao, vì vậy diện tích mít Thái ngày càng mở rộng từ miền Đông Nam Bộ đến ĐBSCL.
Trước đây trái mít chủ yếu dùng dé ăn tươi. Thời gian gần đây, mít được các công ty chế biến dạng say khô, kẹo, trái cây đóng hộp, có thé được sử dụng dé san xuất rượu vang hoặc được sử dụng như một hương liệu nên nhu cầu về mít ngày cảng tăng cao, nông dân đã trồng mít thành vườn chuyên canh tập trung với diện tích lớn. Do đó, công tác giống mít được quan tâm, phục vụ cho nhu cầu phát triển, mở rộng ngày càng tăng (Nguyễn An Đệ và ctv, 2007; Lê Phương Thư, 2015). Ngày nay, hầu hết mít được bán trên thị trường thường được đóng gói trong bao bì trong suốt và được tiêu thụ trực tiếp các triệu chứng rõ ràng trên múi và xơ sẽ làm giảm sự ưa thích của người tiêu dùng.
Nhu cầu và sự ưa chuộng đối với mít cũng ít hơn khi người mua từ chối mua trái bị bệnh (Abidin và ctv, 2018). Đặc tính sinh học * Rễ: rễ cọc phát triển ngay từ nhỏ, đánh cây đi trồng dé làm chết cây con. Ở cây già bộ rễ phát triển mạnh có khi nổi lên mặt đất bám chắc, cho nên chóng gió bão tốt Vũ Công Hậu (2000). * Than: Thân mít có kích thước trung bình, thường đạt chiều cao 8 - 25 m và đường kính gốc 30 - 80 em.