ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của lúa nước, cà phê,. thì nhiều loại cây ăn quả như sầu riêng, xoài, na, bơ, chuối, thanh long,. đã trở thành cây trồng chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao cũng như thế mạnh mới của của nền nông nghiệp Việt Nam. Việt Nam là nước có đầy đủ những điều kiện thuận lợi như khí hậu, thời tiết, đất, nước,.
để sẩn xuất và phát triển trồng cây ăn quả. Ở nước ta cây na được trồng rộng rãi cả ở miền Nam và miền Bắc, vùng phân bố cây na khá rộng. Trừ những nơi có mùa đông lạnh hay có sương muối không thể trồng na ra thì các tỉnh hầu như đều trộng được na. Cây na có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới.
Từ thế kỷ thứ 16, cây na đã được nhập vào nhiều nước do tính tích nghi rộng nên na được trồng phổ biến ở các vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới. Có một số tác giả cho rằng Ấn Độ là nơi đất tổ của na. Cây na có tên khoa học là Annona Sqamosa L., cùng họ với cây na có mãng cầu xiêm, nê, bình bát. Cây na là cây có giá trị dinh dưỡng cao, cứ trong 100g phần ăn được của na cho ta 66 calo; 1.12% axit; 30mg vitamin C; 0.45% chất béo và 1.
Ngoài ra hạt na chứa 15 – 15% tinh dầu có thể làm thuốc bảo vệ thực vật và chế mỹ phẩm. Quả na chủ yếu dùng để ăn tươi, chế biến nước giải khát, rượu. Rễ, lá, hạt na xanh có thể dùng làm thuốc chữa bệnh. Na là cây ăn quả có giá trị tiềm năng kinh tế rất lớn, nó góp phần không nhỏ trong việc xóa đói giảm nghèo đối với một số vùng miền núi đồng thời nó góp phần phủ trống đất trống đời trọc và tạo công ăn việc làm dư thừa lớn trong xã hội.
Trong những năm gần đây cây na đã được chú trọng và phát triển những vùng như vùng gò đồi Hà Tây, Tây Ninh, Chi Lăng (Lạng Sơn), và Đông Triều ( Quảng Ninh). 1 Như vậy cả về mặt hương vị và giá trị dinh dưỡng thì cây na xứng đáng xếp vào loại cây ăn quả nhiệt đới có giá trị. Chính nhờ các giá trị quan trọng đó mà diện tích và sản lượng của cây na trong những năm gần đây trên thế giới nói chung và trong nước nói riêng luôn liên tục tăng. Bên cạnh đó thì tình hình dịch bệnh hại trên cây na ngày càng có xu hướng gia tăng và biến đổi phức tạp làm cho năng suất cây trồng cũng như chất lượng sản phẩm giảm, gây thiệt hại về kinh tế lớn.
Bệnh hại trên cây na khá là đa dạng, phải kể đến như: bồ hóng, thán thư, thối rễ, héo tươi vi khuẩn, đốm nâu, thối trái, loét sẹo đen, héo khô trái, héo khô cành,. Và đặc biệt trên cây na có bệnh hại cần phải chú ý đến khi cây bắt đầu ra quả là bệnh đốm vàng lá và bệnh thối rễ do nấm Pseudocercospora nấm Pythium gây ra. Bệnh này đặc biệt quan trọng khi xuất hiện và hình thành trong giai đoạn đã thành quả của cây, bệnh xuất hiện khá phổ biến ở mọi vùng trồng na. Bệnh gây thiệt hại nặng nhất khi cây ra quả làm ảnh hưởng xấu đến năng xuất, chất lượng sản phẩm, sản lượng gây trồng, gây thiệt hại kinh tế và giảm giá trị xuất khẩu do đã gần đến lúc thu hoạch.
Hiện nay, tại huyện Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh đang bắt đầu những bước phát triển đầu tiên của ngành nông nghiệp cây ăn quả nên vẫn còn gặp những khó khăn khi phòng tránh bệnh hại trên cây và đặt biệt là cây na. Nên xuất phát từ nhu cầu thực tiễn hiện nay của người dân, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nấm bệnh hại trên cây Na tại huyện Đông Triều-Quảng Ninh” 1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1. Mục đích Điều tra thành phần bệnh hại trên cây na; điều tra tình hình và mức độ gây hại của nấm gây ra cho cây na tại huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh. Thu thập thành phần mẫu bệnh tại điểm điều tra.
Xác định nấm gây bệnh và đánh giá tính gây bệnh của nấm. Yêu cầu - Điều tra thành phần bệnh hại trên cây na. - Phân lập nấm gây bệnh. - Xác định nguyên nhân gây bệnh và các đặc điểm hình thái sinh học của nấm gây bệnh thán thư.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh học đến sự hình thành và phát triển của nấm gây bệnh. - Thí nghiệm lây bệnh nhân tạo đến đến cây trồng trong điều kiện nhà lưới để xác định mức độ gây bệnh và thời kỳ tiềm dục của nấm gây hại. 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Nguồn gốc phân bố và phân loại Cây na hay còn gọi là cây Phan Lệ chi, Sa Lê, Mác Kiếp hay Mãng Cầu (cách gọi riêng của các tỉnh phía Nam) có tên khoa học Annona Squanosa thuộc họ Annonaceace và có nguồn gốc nhiệt đới. Nguồn gốc bản địa chính xác của loại cây này hiện chưa rõ nhưng người ta cho rằng nó là cây bản địa của các nước thuộc Trung và Nam Mỹ.
Cây na có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới, nguồn gốc bản địa chính xác của loại cây này chưa rõ do hiện nay nó được trồng khắp nơi nhưng người ta cho rằng nó là cây bản địa của vùng Caribe, cây na được trồng với quy mô lớn tập trung ở Châu Á và chỉ phổ biến ở các nước nằm trong vĩ độ 20o Bắc – 30o Nam. Vị trí của cây na trong hệ thống phân loại thực vật: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Magnoliales Họ: Annonaceae Chi: Annona Loài: A. Squamosa Tên khoa học: Annona Squamosa Ở nước ta, na được trồng rộng rãi cả miền Bắc lẫn miền Nam, vùng phân bố na của nước ta khá rộng. Trừ những nơi có mùa đông lạnh, có sương muối không trồng được na còn lại hầu hết các tỉnh đều trồng được na.
Na là cây ăn quả có giá trị tiềm năng kinh tế rất lớn nó góp phần không nhỏ trong việc xóa đói giảm nghèo đối với một số vùng miền núi đồng thời góp phần phủ xanh đất 4 trống đồi trọc và tạo công ăn việc làm dư thừa lớn trong xã hội. Trong những năm gần đây cây na đã được chú trọng phát triển trong một số vùng là: - Tây Ninh là tỉnh có diện tích trồng na lớn nhất cả nước. Diện tích trồng na của tỉnh tập trung ở chân núi Bà Đen (thị xã Tây Ninh). Đến năm 2008, tỉnh Tây Ninh có khoảng 3.
- Na Chi Lăng (Lạng Sơn): cây na được coi là cây ăn quả đặc sản của huyện Chi Lăng. Trong những năm gần đây diện tích trồng na của huyện tăng dần, từ 789,54 ha năm 2000 lên 936,9 ha năm 2005, 1. Vùng na tập trung nhiều nhất ớ xã Chi Lăng, thị trấn Chi Lăng, xã Mai Sao… riêng xã Chi Lăng có 800 hộ trồng na với tổng diện tích khoảng 350 ha, tổng sản lượng 1.400 tấn và cho thu nhập 6 -8 tỷ đồng/năm. - Na dai Quảng Ninh: tại TX Đông Triều có 1.550 hộ trồng na với trên 800ha (chủ yếu là na dai), tập trung tại các xã Việt Dân, An Sinh, Tân Việt, Bình Khê., sản lượng dự kiến 6.
Thời điểm thu hoạch na chính vụ từ cuối tháng 7 đến giữa tháng 8, còn na gối vụ sẽ cho thu hoạch từ cuối tháng 10 đến hết tháng 11. Như vậy, cả về mặt hương vị và giá trị dinh dưỡng, na xứng đáng được xếp vào loại cây ăn quả nhiệt đới có giá trị. Chính nhờ những giá trị quan trọng đó nên trong những năm gần đây, diện tích và sản lượng trồng na trên thế giới nói chung và trong nước nói riêng tăng liên tục.2 Đặc điểm thực vật học Na thuộc nhóm cây ăn quả rụng lá một phần trong mùa đông, thân gỗ hoặc thân bụi cao từ 3 - 5m, có nhiều cành. Cành na nhỏ, mềm kiểu cành la.
Lá mỏng hình thuẫn dài hoặc hình trứng, mặt lá màu xanh lục, lá non có lông thưa, lá già thì nhẵn, khi vò lá có mùi thơm. Cuống lá ngắn có lông ngắn, chiều dài từ 1,5 - 1,8cm, lá rụng xong trơ cuống và lúc đó mới mọc mầm mới. Hoa mọc đơn hoặc mọc thành chùm từ 1 - 4 hoa trên nách lá hoặc ở đỉnh của các cành năm trước, hoặc mọc trên đoạn cành dưới của các cành già. Chiều dài hoa từ 2 - 5 4cm màu xanh vàng mọc chúp ngược, cuống hoa ngắn 1,4 - 2,0cm.
Cánh hoa xếp hai vòng, mỗi vòng có 3 cánh, đài hoa bé có màu xanh. Nhị đực bé nhưng tạo thành một lớp bọc ở ngoài vòng của các nhị cái. Nhị cái rất nhiều xếp thành hình chóp tròn và nhọn. Quả thuộc quả kép, do kết hợp nhiều quả nhỏ lại với nhau mà thành.
Quả hình tim có cuống hơi lõm, có đường kính từ 80 - 90 mm, chiều cao từ 60 - 75mm, trọng lượng quả từ 100 - 250g, vỏ quả xù xì (mắt na), thịt quả mềm màu trắng sữa, khi chín ăn rất ngọt, có mùi thơm đặc biệt, bên trong có nhiều hạt cứng màu đen hoặc màu nâu đen. Na thụ phấn chéo bởi hoa cái có khả năng tiếp nhận hạt phấn trước 1 - 2 ngày lúc hoa ực nở (tung phấn). Thời gian thụ phấn ngắn, cây thụ phấn tốt nhất vào khoảng 9 giờ - 12 giờ hoặc 14 giờ 30 – 17 giờ 30 trong ngày. Kinh nghiệm trồng na của nhân dân cho biết nếu hoa nở gặp khô hạn, gió mùa ông bắc hay gặp mưa thì việc thụ phấn sẽ gặp khó khăn, đậu quả ít, nếu gặp ngày nắng, không mưa, gió đông nam thì việc thụ phấn, thụ tinh thuận lợi, đậu quả sẽ tốt.
Từ lúc có nụ đến lúc hoa nở khoảng 31 - 45 ngày phụ thuộc vào trạng thái sinh trưởng của cây và độ ẩm không khí, nếu có độ ẩm phù hợp thì hoa cái sẽ nở sớm.3 Đặc điểm hình thái và sinh thái Ở các tỉnh miền Bắc, giống na chủ yếu được phân biệt thành hai loại: na dai và na bở - Na dai: vỏ nông dễ tách khỏi thịt quả, ít hạt, thịt chắc ngọt đậm và thơm ngon. Hạt nhỏ và dễ tách khỏi thịt quả. - Na bở: vỏ màu xanh, thịt bở, khó bóc vỏ hơn so với na dai, quả thường hay bị nứt, ăn ngọt nhưng thịt không chắc. + Nhiệt độ: Na có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nên thích hợp với khí hậu ấm áp và khô.
Tuy vậy, cây na vẫn sinh trưởng được trong điều kiện nóng ẩm. Na rất sợ rét, chịu rét kém hơn vải, mhãn, chanh.