Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở ngoài nước 1. Nghiên cứu về bệnh cây Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một môn khoa học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn.
Năm 1874 ở châu Âu, Robert Hartig (1839-1901) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu môn khoa học bệnh cây rừng. Ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, đến nay đã trở thành môn khoa học không thể thiếu được. Kể từ đó đến nay trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như: G.Hapting nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970), đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh [19]. Những năm ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh.
Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L. Trong đó có một số bệnh hại lá của thông, Keo, Mỡ (Roger,1953) [37]. John Boyce năm 1961 xuất bản sách Bệnh cây rừng (Forest pathology) đã mô tả một số bệnh hại cây rừng. Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như: Anh, Mỹ, Canada (John Boyce,1961) [36].
Nghiên cứu về bệnh hại Keo Với tổng số trên dưới 1200 loài, chi Keo Acacia là một chi thực vật quan trọng đối với đời sống xã hội của nhiều nước (Boland, 1989; Boland et al. Theo các ghi chép của trung tâm giống cây rừng Ôxtrâylia (dẫn từ Maslin và McDonald, 1996) thì các loài Keo Acacia của Ôxtrâylia đã được gây trồng ở trên 70 nước với diện tích khoảng 1.000 ha vào thời điểm đó. Nhiều loài trong số đó đã đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường. Các loài có tiếng về cung cấp nguyên liệu gỗ và bột giấy là Keo lá tràm (A.
auriculiformis), Keo lá liềm (A. crassicarpa), Keo tai tượng (A. mangium), Keo đa thân (A. còn các loài khác như A.tumida lại có tiềm năng cung cấp gỗ củi, chống gió và hạt làm thức ăn cho người ở một số vùng (Cossalter, 1987; House and Harwood, 1992) [24].
Năm 1961 - 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại Keo (John Boyce,1961) [36]. Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây Mỡ và Keo. Cây trồng bị khô héo, rụng lá và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerlla cingulata (giai đoạn vô tính là nấm Colletotrichum gleosporioides.) đó là nguyên nhân chủ yếu của sự thiệt hại với loài Keo Acacia mangium trong vườn giống ở Papua New Guinea (FAO 1981) và Ấn Độ. Theo nghiên cứu của Lee và Goh năm 1989 loài nấm này còn gây hại với các loài Acacia ssp.
Đặc biệt dưới điều kiện khí hậu ẩm ướt lá và thân cây Keo bị bệnh nguyên nhân do loài Cylindroladium quinqueseptatum (theo nghiên cứu của Mohaman và Shaama 1988) [ 33]. Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài Keo như các công n 6 trình của Vannhin, L. Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài Acacia. (Ấn Độ) đã xem xét nghiên cứu vùng trồng Keo lá tràm ở Kalyani Nadia và đã phát hiện nấm bồ hóng Oidium sp.
gây hại trên cây non từ 1-15 tuổi.J và đồng nghiệp ở viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerela Ấn Độ đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor gây hại trên vùng trồng A. auricuformis bang Kerela, tỷcây chết khoảng 10%. và các đồng nghiệp ở trung tâm nghiên cứu quốc gia cây họ đậu ở Vamban Ấn Độ, phát hiện sự rụng lá nghiêm trọng của cây non Acacia spp. trồng tại vùng đất khô hạn và vùng đất đỏ đá ong (pH = 5,5 - 6,0) tại Tamilladu do bọ vòi voi Mylloceros sp.
gây ra ở 4 loại A. và đồng nghiệp ở viện cây rừng Madhya Pradesh Ấn Độ nghiên cứu về sâu và bệnh gây thiệt hại cho cây A. thuộc phòng môi trường và tài nguyên thành phố Cebu, Philippin đã phát hiện thấy một số bệnh trên A. Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài Keo.
Đó là nấm Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A. simsii; nấm Uromycladium robinsonii gây bệnh rỉ sắt ở lá giả loài keo vùng cao (A. Melanoxylon); nấm Oidium sp. Gây bệnh phấn trắng đối với loài keo tai tượng (A.
Mangium) và keo lá tram (A. Auriculiformis) ở Trung Quốc nhưng loài A. n 7 Các nghiên cứu về các loại bệnh ở Keo Acacia cũng đã được tập hợp khá đầy đủ vào cuốn sách “Cẩm nang bệnh Keo nhiệt đới ở Ôxtrâylia, Đông Nam Á và ấn Độ” trong đó có các bệnh khá quen thuộc đã từng gặp ở nước ta như bệnh bệnh phấn trắng, bệnh đốm lá, bệnh phấn hồng và rỗng ruột (Ken old et al, 2000) [24]. Tóm lại, các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây phần nào làm sáng tỏ việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại nói chung và sâu bệnh hại vườn ươm nói riêng.
Đó là cơ sở để lựa chọn cho việc nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh ở vườn ươm trong đề tài này. Nghiên cứu ở trong nước 1. Nghiên cứu về bệnh cây Bệnh cây ở Việt Nam rất phổ biến, các cây trồng ít nhiều đều bị bệnh. Song khoa học bệnh cây cũng như khoa học bệnh cây rừng nước ta lại được bắt đầu muộn hơn so với thế giới.
Mặc dù trong thời kỳ thuộc Pháp, một số nhà khoa học bệnh cây đã có những công trình nghiên cứu đến các loại nấm gây bệnh cây rừng, cây gỗ và cây cảnh, nhưng môn khoa học bệnh cây rừng có điều kiện phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Văn Mão, 2003) [8]. Song song với việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh hại rừng thì các cán bộ nghiên cứu và giảng dạy môn bệnh cây rừng đã có mối quan hệ rộng rãi với các cơ quan nghiên cứu bệnh cây rừng các nước trên thế giới để tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để phòng trừ bệnh cây phát huy được tác dụng bảo vệ tài nguyên rừng hiện tại và tương lai (Trần Văn Mão, 1995) [17 ]. Khí hậu Việt Nam cũng đưa đến không ít những khó khăn, làm cản trở hoặc phá hoại cơ sở vật chất và thành quả của sản xuất lâm nghiệp như: Những thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây rừng, cũng là những thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển, lan tràn sâu bệnh hại thực vật. Nạn dịch sâu ăn lá, sâu đục n 8 thân, nấm cổ rễ….Phát sinh hầu hết ở khắp nơi, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lâm nghiệp (Vương Văn Quỳnh et al, 1996) [ 27].
Năm 1960, khi điều tra bệnh cây rừng ở miền Nam Việt Nam, Hoàng Thị My đã đề cập đến một số bệnh hại lá, chủ yếu là bệnh phấn trắng, gỉ sắt, nấm bồ hóng… có thể nói từ sau cách mạng tháng 8/1945 nhất là từ ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1945), nước ta xây dựng một nền nông - lâm nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa. Với phương thức sản xuất tập trung thì phương pháp bảo vệ cây chống sâu bệnh có nhiều thuận lợi hơn trước, sản xuất có kế hoạch, có tập trung tổ chức, cho phép từng bước xây dựng nề nếp cho công tác bệnh cây, tạo điều kiện đi sâu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ. Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia nước ngoài và các cơ quan nghiên cứu, cho đến nay chúng ta đã có thể biết được gần 1000 loài nấm gây bệnh cho gần 100 loài cây rừng; Trong đó có khoảng 600 loài nấm mục gỗ, trên 300 loài nấm hại lá, hại thân, hại cành, hại rễ; trên 50 loài cây rừng bị bệnh ở mức độ nghiêm trọng và đã có những công trình nghiên cứu cụ thể. Trên cơ sở nắm vững quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây, những nhà nghiên cứu bệnh cây rừng cũng đề xuất biện pháp phòng trừ (Trần Văn Mão, 1997) [18].
Từ năm 1971 với nhiều công trình nghiên cứu của mình, Trần Văn Mão đã bắt đầu công bố một số bệnh cây như quế, trẩu, sở, hồi… ông đã xác định được nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát bệnh và phương pháp phòng trừ một số bệnh hại lá. Các tác giả Nguyễn Sỹ Giao, Đỗ Xuân Quý, đã nghiên cứu trên lá Keo phát hiện ra một số loại bệnh hại như: phấn trắng, Cháy lá. Nhiều chuyên gia nước ngoài như ấn Độ, Mỹ… đã từng đến Việt Nam nghiên cứu về bệnh hại lá Keo như: Hodge (1990), Zhon (1992), Sharma (1994) và công bố trong báo cáo chuyên đề bệnh cây ở Hà Nội. Hiện nay ở nước ta đã có các cơ quan về lâm nghiệp có các bộ phận chuyên trách về phòng trừ sâu n 9 bệnh hại như Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, viện điều tra quy hoạch rừng và các trung tâm bảo vệ rừng (Trần Văn Mão, 1997) [18].
Thuốc bảo vệ thực vật được cung cấp cho nhân dân để phòng trừ bệnh hại cây trồng đã áp dụng từ năm 1950. Số lượng các loại thuốc ngày càng tăng, biện pháp hoá học ngày càng được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông lâm nghiệp. Với ngành Lâm nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật chủ yếu được sử dụng để phòng trừ sâu bệnh hại ở vườn ươm, rừng trồng hoặc khi xuất hiện dịch bệnh lớn. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trong nhiều năm qua đã hợp tác với Khoa Lâm nghiệp và Lâm sản thuộc Tổ chức Khoa học và Công nghệ Australia nghiên cứu về bệnh cây Mỡ và có nhiều đợt điều tra về bệnh hại cây Keo và xác định sinh vật gây bệnh trên nhiều vùng trong cả nước cho thấy bệnh hại cây rừng chủ yếu là do các loài nấm phấn trắng, nấm gỉ sắt, nấm bồ hóng gây nên, ngoài ra còn một số loại vi khuẩn gây bệnh khô ngọn, khô cành.