CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Phôi thai và giải phẫu tuyến tụy 1.1 Phôi thai tuyến tụy Nguồn gốc tuyến tụy bắt đầu từ hai thành phần: nụ tụy bụng và nụ tụy lưng. Trong quá trình phát triển, nụ tụy bụng sẽ tạo nên phần dưới đầu tụy, xoay quanh trục là tá tràng cùng với ống mật chủ, để dính vào nụ tụy lưng. Nụ tụy lưng sẽ phát triển thành thân tụy, đuôi tụy và một phần trên đầu tụy. Sau đó, trong đa số các trường hợp, ống tụy từ nụ tụy lưng sẽ hợp nhất với ống tụy từ nụ tụy bụng tạo thành ống tụy chính rồi hợp với ống mật chủ để đổ vào tá tràng tại nhú tá lớn.
Một phần của ống tụy lưng tạo thành ống tụy phụ dẫn lưu cho nửa trên đầu tụy rồi đổ vào tá tràng thông qua nhú tá bé. Trong quá trình xoay hoặc hợp nhất của tụy có sự bất thường có thể dẫn đến các dị dạng hiếm gặp của tụy.1 Quá trình phát triển phôi thai tụy “Nguồn: Gorelick F, 2003”9 .2 Giải phẫu tuyến tụy Hình thể ngoài: Tụy là cơ quan thuộc hệ tiêu hoá đảm nhiệm chức năng vừa nội tiết vừa ngoại tiết: - Ngoại tiết: sản xuất và bài tiết các enzym tiêu hoá vào tá tràng. Phần này chiếm hơn 95% tuyến tụy. - Nội tiết: các tiểu đảo tụy tiết vào máu insulin, glucagon, somatostatin và polypeptide tuyến tụy và chỉ chiếm 1-2% khối lượng tụy.11,12 Tụy đi từ phần xuống tá tràng đến cuống lách, vắt ngang trước cột sống thắt lưng ngang mức khoảng L1 và L2, chếch lên trên sang trái.
Tụy nằm sau phúc mạc, mạc treo kết tràng ngang dính vào mặt trước tụy và chia tụy thành hai phần. Tụy được chia thành 4 phần: Đầu, thân, cổ và đuôi tụy. - Đầu tụy: phần dày và rộng nhất của tụy, dạng gần như hình vuông, có tá tràng tạo thành hình chữ C vây quanh và liên quan mật thiết với nhau. Từ phía dưới của đầu tụy tách ra một phần gọi là mỏm móc, kéo dài về phía đường giữa, nằm sau động mạch (ĐM) mạc treo tràng trên (MTTT).
- Thân tụy: chếch lên trên sang trái, lõm ra sau ôm cột sống và áp mặt sau dạ dày. - Cổ tụy: nằm giữa đầu và thân tụy, hơi mỏng hơn hai phần này, phủ phía trước chỗ hợp nhất của tĩnh mạch TM lách và TM MTTT để tạo thành TM cửa. - Đuôi tụy: nối tiếp với thân tụy và không có ranh giới rõ ràng, chạy về phía rốn lách, di động trong mạc nối tụy-lách.2 Liên quan của tụy với các cơ quan khác trong ổ bụng “Nguồn: Frank HN, 2019”13 Về kích thước, tụy ở người trưởng thành có trọng lượng khoảng 80-100g, dài 14-18 cm, rộng 2-9 cm và dày 2-3 cm.11 Tụy có các ống tiết liên tiểu thuỳ đổ vào các ống tiết lớn hơn bao gồm ống tụy chính và ống tụy phụ rồi đổ vào tá tràng. Ống tụy chính chạy theo trục của tụy, xuất phát từ đuôi tụy qua thân tụy, khi đến đầu tụy chạy xuống dưới hợp với ống mật chủ tại bóng Valter, đổ vào tá tràng đoạn xuống tại nhú tá lớn.
Ống tụy phụ có nhiều biến thể giải phẫu khác nhau nhưng thông thường tách ra từ ống tụy chính ở đầu tụy, hơi chếch lên trên rồi đổ vào tá tràng ở nhú tá bé nằm phía trên nhú tá lớn khoảng 3 cm. 6 Mạch máu và thần kinh của tụy: Động mạch cấp máu cho tụy là gồm 2 nguồn từ ĐM thân tạng và ĐM MTTT: - ĐM thân tạng: qua nhánh ĐM vị tá tràng có ĐM tá tụy trên sau và ĐM tá tụy trên trước và ĐM lách có 4 nhánh: ĐM tụy lưng, ĐM tụy dưới, ĐM đuôi tụy, ĐM tụy lớn. - ĐM MTTT: cho nhánh ĐM tá tụy dưới trước và ĐM tá tụy dưới sau. Tĩnh mạch của tụy đổ về tĩnh mạch cửa thông qua các nhánh: - TM trên khối tá – tụy đổ trực tiếp về TM cửa.
- TM tụy dưới để đổ về TM MTTT. - TM thân và đuôi tụy đổ về TM lách. Thần kinh tự chủ của tụy tách từ đám rối tạng và đám rối MTTT.3 Hình chụp cắt lớp vi tính giải phẫu và liên quan của tụy với các cơ quan khác “Nguồn: Paulsen F, 2018”14 .2 U dạng nang thanh dịch ở tụy 1.1 Đặc điểm của u tụy dạng nang Theo GLOBOCAN 2020, trong các loại ung thư thường gặp thì ung thư tụy đứng thứ 13, tuy nhiên lại đứng thứ 7 về tỉ lệ tử vong với hơn 466.000 bệnh nhân hằng năm. Tỉ lệ mắc bệnh trong 5 năm là 4,87/100.15 Về dịch tễ học, sự kết hợp nhiều yếu tố trong đó việc sử dụng ngày càng nhiều các công cụ chẩn đoán hình ảnh cắt lớp và dân số già hóa đã dẫn dến tổn thương tụy dạng nang là loại tổn thương được phát hiện ngẫu nhiên nhiều nhất.
Trong bảng Phân loại các khối u của tụy của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), các u tụy dạng nang về mặt bệnh học được xếp vào nhóm u biểu mô, là nhóm lớn nhất và chiếm hầu hết các tổn thương ở tụy.16 Theo một số trung tâm nghiên cứu trên thế giới, các loại u tụy dạng nang có thể gặp ở 2-45% dân số.17–20 Phân loại các u dạng nang ở tụy thường gặp gồm: u dạng nang thanh dịch (SCN), u dạng nang nhầy (MCN), u nhú nhầy trong ống tuyến (IPMN) và u đặc giả nhú (SPN).1 Phân loại u tụy dạng nang thường gặp23,24 Loại u Đặc điểm U tụy dạng U nhú nhầy U tụy dạng U đặc giả nang thanh trong ống nang nhầy nhú dịch tuyến Tuổi 60-70 tuổi 40-50 tuổi 60-80 tuổi Trẻ tuổi Giới 75% Nữ 99% Nữ Nam = Nữ 88% Nữ Vị trí u thường Thân – đuôi Mọi nơi Đầu tụy Mọi nơi gặp ở tụy tụy Khả năng ác Tiền căn ác Tiền căn ác Tiền căn ác Lành tính tính tính tính tính .4 Hình minh họa các loại u tụy dạng nang thường gặp. “Nguồn: Miller FH, 2021”25 1.2 Đặc điểm của u dạng nang thanh dịch ở tụy 1.1 Đặc điểm dịch tễ học: UDNTD là một khối u nguyên phát hiếm ở tụy, chỉ chiếm chưa đến 1% tất cả tổn thương ở tụy26 và khoảng 16% các khối u tụy dạng nang.27 U dạng nang thanh dịch ở tụy có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trong tụy, trong đó đầu tụy/mỏm móc chiếm 40%, thân tụy 34% và cuối cùng là đuôi tụy 26% với đường kính trung bình là 31 mm.28 Độ tuổi khoảng 60 tuổi, và đa số giới tính nữ với tỉ lệ nữ gấp 2,5 lần nam nên thường gọi là độ tuổi của bà.2 Đặc điểm bệnh học: Đa số trường hợp phát hiện UDNTD ở tụy là tình cờ và chính vì thế nên chúng thường không có biểu hiện lâm sàng. Triệu chứng hay gặp nhất là đau bụng (có thể lên đến 74% số bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng)31, vàng da, sụt. 9 cân, nôn ói, sờ thấy khối ở bụng, tắc nghẽn sự lưu thông của dạ dày bởi khối u chèn ép từ bên ngoài hay khó tiêu.
Khi khối u lớn >4 cm và đặc biệt >15 cm có thể gây ra triệu chứng lâm sàng, thường là biểu hiện chèn ép do hiệu ứng khối.32,33 Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng bệnh nhân mắc Hội chứng von Hippel-Lindau (VHL) – một hội chứng đa cơ quan cực kì hiếm gặp do đột biến gen trội trên nhiễm sắc thể thường – có nguy cơ cao phát triển UDNTD ở tụy.26 Những bệnh nhân có hội chứng VHL thường sẽ tình cờ phát hiện UDNTD ở tụy sớm hơn ở lứa tuổi 25, trong khi ở dân số nói chung những tổn thương này thường thấy nhiều nhất ở lứa tuổi thập niên 60. Nghiên cứu của tác giả Charlesworth và cộng sự năm 2012 đã thống kê có 39 bệnh nhân mắc hội chứng VHL (chiếm tỉ lệ 11%) trong tổng số 362 trường hợp có UDNTD ở tụy.34 Khi phân tích thành phần dịch trong nang, nồng độ kháng nguyên Carcinoembryonic (CEA) cũng có thể hỗ trợ để phân biệt u tụy dạng nang nhầy và các u dạng nang không nhầy như UDNTD. Nhìn chung, nồng độ CEA càng cao thì càng khả năng là u tụy dạng nang nhầy với giá trị ngưỡng theo Hướng dẫn của Châu Âu được quốc tế chấp nhận là 192ng/mL.35,36 Đa số các khối UDNTD ở tụy có nồng độ amylase/lipase thấp8 và nồng độ CEA thấp, < 5 đến 20 ng/mL,28 đặc biệt khi <5ng/mL độ nhạy lên đến 100% và độ đặc hiệu 86%.37 Mặc dù vậy, cho đến hiện tại không có đủ bằng chứng ủng hộ việc sử dụng CEA hay các chất chỉ điểm nào khác trong chẩn đoán phân biệt các loại u dạng nang hoặc chẩn đoán xác định UDNTD ở tụy.21 Về giải phẫu bệnh, UDNTD ở tụy cấu tạo bởi các tế bào biểu mô giàu glycogen tạo thành vô số nang nhỏ có thành mỏng và chứa thanh dịch bên trong.30,38 Tế bào học của chúng có dạng một lớp tế bào hình lập phương hoặc dẹt, lót mặt trong các nang nhỏ được sắp xếp chặt chẽ với nhau, bên trong có. 10 nhân hình tròn và nhiều tế bào chất trong suốt.38 Các nang này thường không thông với ống tụy.
Sẹo trung tâm và mô đệm ngăn cách các nang nhỏ được cấu tạo bởi mô liên kết collagen không có tế bào. Nhuộm màu đặc biệt làm nổi bật glycogen nội mô chiếm ưu thế mà không có thành phần chất nhầy.5 Giải phẫu bệnh UDNTD dạng nang nhỏ ở tụy “Nguồn: Chu LC, 2017”27 (a) Hình đại thể của UDNTD cho thấy dạng bọt biển với nhiều nang nhỏ. (b) và (c) Hình ảnh tiêu bản mô bệnh học độ phóng đại thấp và độ phóng đại cao cho thấy nhiều nang nhỏ (*) được xếp chặt chẽ bởi các tế bào hình lập phương với nhân nhỏ hình tròn đồng nhất (mũi tên) và tế bào chất trong suốt.6 Giải phẩu bệnh mẫu đại thể của UDNTD ở tụy dạng nang lớn “Nguồn: Basturk O, 2009”38 1.3 Chẩn đoán hình ảnh u dạng nang thanh dịch ở tụy U dạng nang thanh dịch ở tụy có thể được phát hiện tình cờ bằng các phương tiện CĐHA khác nhau như siêu âm, siêu âm nội soi, CLVT hay CHT. Trong đó, chụp CLVT là phương tiện chủ yếu được sử dụng để đánh giá các tổn thương của tụy nói chung và tổn thương dạng nang ở tụy nói riêng.
U dạng nang thanh dịch ở tụy là khối u dạng nang lành tính, điều này đặt ra đỏi hỏi cần chẩn đoán phân biệt với các loại u khác có tiềm năng ác tính.28 Một nghiên cứu năm 2012 của nhóm tác giả thuộc Hiệp hội Tụy học Quốc Tế và Hội Tụy Châu Âu thực hiện trên 2622 bệnh nhân đã chỉ ra rằng có đến 61% bệnh nhân không có biểu hiện trên lâm sàng.