CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về vị trí phân loại và đặc điểm thực vật một số chi thuộc họ Apiaceae ở Việt Nam 1. Đặc điểm thực vật và phân bố chi Angelica L. Vị trí phân loại chi Angelica L.
Theo hệ thống phân loại thực vật APG IV (2016) [9], vị trí phân loại của chi Angelica L. được sắp xếp như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Bộ: Hoa tán (Apiales) Họ: Hoa tán (Apiaceae) Chi: Angelica L. Đặc điểm thực vật chi Angelica L. Theo Thực vật chí Trung Quốc [11], đặc điểm thực vật chi Angelica L.
được mô tả như sau: Cây thảo, hai năm hoặc lâu năm. Rễ thường mập mạp, hình nón hoặc hình trụ. Lá có cuống, cuống lá phồng lên rõ rệt; phiến có hình lông chim hoặc xẻ lông chim nhiều lần hoặc chia ba tới xẻ ba. Cụm hoa tán kép, thường ở ngọn, hoặc ở ngọn và ở bên; lá bắc nhiều hoặc ít, hiếm khi không có, nguyên; tia thường nhiều.
Đài hoa hình trứng, hình tam giác hoặc bị teo đi. Cánh hoa màu trắng, đôi khi có màu hồng hoặc tím đậm, hình trứng đến trứng ngược, đỉnh cong vào trong. Cuống hoa hình nón ngắn. Quả hình trứng đến hình cầu, dẹp lưng; cạnh lưng mảnh, Cạnh bên có cánh, tách ra khi chín.
Ống tiết tinh dầu nhiều. Phân bố chi Angelica L. bao gồm khoảng 110 loài, phân bố rộng rãi ở Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ [12], [31]. Chúng mọc nhiều ở các đầm lầy, bờ sông, đồng cỏ và rừng ẩm ướt [31].
Trong đó 45 loài nằm ở Trung Quốc (khoảng 32 loài đặc hữu) [11], [12]. Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ, Việt Nam có 4 loài thuộc chi Angelica L., bao gồm Tiền hồ [Angelica decursiva (Miq.], Đương quy [Angelica sinensis (Oliv.], Bạch chỉ [Angelica dahurica (Hoffm.] và Đương quy (Angelica uchiyamae Yale). Các loài này đều có nguồn gốc tại Trung Quốc và được nuôi trồng ở Việt Nam [2]. Sau đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Đương quy di thực đã được du nhập từ Nhật Bản và trồng tại một số vùng ở Việt Nam.
Bất chấp sự khác biệt lớn về khí hậu giữa Việt Nam và Nhật Bản, Đương quy di thực vẫn phát triển rất tốt ở Việt Nam 2 [7], [16], [34], [35]. Bên cạnh đó, sự phân bố của Độc hoạt tại Việt Nam cũng đã được báo cáo [24]. Đặc điểm thực vật và phân bố chi Cryptotaenia DC. Vị trí phân loại chi Cryptotaenia DC.
Theo hệ thống phân loại thực vật APG IV (2016) [9], vị trí phân loại của chi Cryptotaenia DC. được sắp xếp như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Bộ: Hoa tán (Apiales) Họ: Hoa tán (Apiaceae) Chi: Cryptotaenia DC. Đặc điểm thực vật chi Cryptotaenia DC. Theo Thực vật chí Trung Quốc [11], đặc điểm thực vật chi Cryptotaenia DC.
được mô tả như sau: Cây thân thảo, sống lâu năm, về cơ bản nhẵn (có vảy nhỏ dọc theo gân lá). Thân rễ nhỏ, dạng củ, phân nhánh. Thân hình trụ, phân nhánh, màu tía, gốc không còn bẹ lá. Lá có cuống, bẹ thuôn dài, có màng, phồng lên; lá kép ba lá chét; lá chét hình thoi, hình trứng hoặc hình tim, gốc hình nêm, mép nhọn có răng cưa.
Cụm hoa tán kép, hợp lại thành hình chùy, mọc ở ngọn; cành hoa và tia hoa uốn cong trong hoa, cứng lại khi quả chín; lá bắc và lá bắc con có thể có hoặc không; tia hoa nhiều, không đều nhau; tán ít hoa, cuống không đều nhau. Đài hoa có răng hình tam giác nhỏ. Cánh hoa màu trắng, hình trứng ngược, đỉnh cong. Cuống hoa hình nón dài, xẻ và thuôn nhọn thành dạng ngắn, dựng đứng.
Quả thuôn dài, hình bầu dục, lưng hơi dẹp, đỉnh nhọn, gốc tròn, nhẵn; 5 cạnh, nổi rõ, màu nhạt; ống tiết tinh dầu có 1-3 trên mỗi rãnh, 4 ở mép. Vòi nhụy chia đôi tới gốc. Phân bố chi Cryptotaenia DC. là một chi đa ngành với 4 loài ở tông Oenantheae và 3 loài ở tông Pimpinelleae.
Các loài trong Oenantheae tạo thành một nhánh được đặt tên là “Cryptotaenia s. với các loài hiện diện ở những khu vực là nơi trú ẩn băng giá quan trọng: Cryptotaenia flahaultii Koso-Pol. ở dãy núi Kavkaz (Georgia); Cryptotaenia japonica Hassk. phân bố ở Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan), và Cryptotaenia thomasii D.
3 Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ, ở Việt Nam có 1 loài thuộc chi Cryptotaenia DC. Tuy nhiên, hiện nay tên C. canadensis chỉ được xác định là tên đồng nghĩa của C. japonica – Áp nhĩ cần.
Đặc điểm thực vật và phân bố chi Heracleum L. Vị trí phân loại chi Heracleum L. Theo hệ thống phân loại thực vật APG IV (2016) [9], vị trí phân loại của chi Heracleum L. được sắp xếp như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Bộ: Hoa tán (Apiales) Họ: Hoa tán (Apiaceae) Chi: Heracleum L.
Đặc điểm thực vật chi Heracleum L. Theo Thực vật chí Trung Quốc [11], đặc điểm thực vật chi Heracleum L. được mô tả như sau: Cây thảo, sống lâu năm, hiếm khi hai năm. Rễ hình thoi hoặc hình trụ, dày, ít khi có xơ.
Thân mọc thẳng, hình trụ và thường có gân hoặc sọc, phân nhánh. Lá có cuống, bẹ lá thường rộng, lá kép ba lá chét hoặc lá kép lông chim, có lông hoặc không. Cụm hoa tán kép rời, ở ngọn và ở bên, tán ở ngọn có hoa lưỡng tính, tán bên thường chỉ có hoa đực; lá bắc ít hoặc không có, thường thưa thớt; tia thường nhiều, lan rộng; lá bắc con nhiều, hình dải hoặc hình mác, nguyên; tán có nhiều hoa. Răng đài hoa hình tam giác, hình mũi mác hoặc bị teo đi.
Cánh hoa màu trắng, đôi khi hơi hồng hoặc vàng nhạt, hình trứng ngược hoặc hình trứng, gốc hình nêm, đỉnh có khía với một thùy cong hẹp; hoa phía ngoài của tán thường to hơn với cánh hoa ngoài lớn, hình trứng ngược, đỉnh có hai thùy sâu. Cuống hoa hình nón, ngắn, thẳng hoặc cong. Quả hình trứng, hình trứng ngược, hoặc hình cầu, dẹp lưng, có lông hoặc không; cạnh lưng dạng sợi, đôi khi nổi lên, cạnh bên thường có cánh; ống tiết tinh dầu có 1-2 trên mỗi rãnh, 2-6 hoặc không có ở mép, hẹp, kéo dài tới gốc của lá noãn và ngắn hơn nhiều so với lá noãn. Hạt dẹp, đôi khi hơi lõm.
Vòi nhụy chia đôi tới gốc. Phân bố chi Heracleum L. gồm hơn 120 loài và là một trong những chi lớn nhất của họ Apiaceae [6]. Các loài thuộc chi này phân bố rộng rãi ở Bắc bán cầu, chủ yếu ở Á-Âu [6], [11], một loài ở Bắc Mỹ, một số loài ở Đông Phi, 29 loài (21 loài đặc hữu) ở Trung Quốc [11].
Cụ thể hơn, chi này có 17 và 10 loài tương ứng ở Thổ Nhĩ Kỳ và Iran [23], dãy núi Kavkaz có 26 loài Heracleum [20]. Do sự phân phối rộng rãi của chi này ở châu 4 Âu, một số loài Heracleum được coi là loài xâm lấn (H. Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ, Việt Nam có 1 loài thuộc chi Heracleum L., đó là loài Cần dại [2]. Đặc điểm thực vật và phân bố chi Xyloselinum Pimenov & Kljuykov a.
Vị trí phân loại chi Xyloselinum Pimenov & Kljuykov Theo hệ thống phân loại thực vật APG IV (2016) [9], vị trí phân loại của chi Xyloselinum Pimenov & Kljuykov được sắp xếp như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Bộ: Hoa tán (Apiales) Họ: Hoa tán (Apiaceae) Chi: Xyloselinum Pimenov & Kljuykov b. Đặc điểm thực vật chi Xyloselinum Pimenov & Kljuykov Cây bụi, lá kép lông chim xẻ 2-3 lần, các phiến lá gốc có cuống, các phiến lá ngọn hình mũi mác rộng, quả đơn, chứa tinh dầu dạng ống tiết ở rãnh, mặt tiếp giáp của nội nhũ gần như phẳng. Xyloselinum laoticum có nhiều điểm tương tự với Thì là thân gỗ việt hơn so với Thì là thân gỗ leonid. laoticum khác với Thì là thân gỗ việt ở các đặc điểm: mép lá có răng không đều hoặc có rãnh, không có bóng trữ nước ở mặt dưới, cuống lá cứng (không rỗng), cụm hoa hình cầu, cuống hoa gần như nhẵn (không được bao phủ dày đặc bởi các gai ngắn như Thì là thân gỗ việt), lá bắc con nguyên, bầu nhụy hình nón cụt (không phải hình nón ngắn) [28].
Phân bố chi Xyloselinum Pimenov & Kljuykov Chi Xyloselinum Pimenov & Kljuykov chỉ bao gồm ba thành viên. Hai loài Thì là thân gỗ việt và Thì là thân gỗ leonid được mô tả lần đầu tiên vào năm 2006 [29]. Thì là thân gỗ việt phân bố ở khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ và xã Lao Và Chải, huyện Yên Minh. Thì là thân gỗ leonid có phạm vi phân bố rộng hơn, ngoài tỉnh Hà Giang (xã Sính Lủng, huyện Đồng Văn; xã Sủng Trà, huyện Mèo Vạc) còn gặp ở tỉnh Sơn La (xã Mường Lụm, huyện Yên Châu; và xã Chiềng Cọ, thành phố Sơn La) [3], [29].
Năm 2016, Xyloselinum laoticum Pimenov & Aver được báo cáo là loài đặc hữu của Lào, được phát hiện tại tỉnh Viêng Chăn [28]. Tổng quan các nghiên cứu về hiển vi Theo tiêu chuẩn DĐVN V [1], có 14 chuyên luận về họ Apiaceae, được liệt kê trong Bảng 1. Mỗi chuyên luận có thể bao gồm cả chỉ tiêu về vi phẫu và bột hoặc chỉ có 1 trong 2 nội dung. Các chuyên luận về họ Apiaceae theo tiêu chuẩn DĐVN V Chuyên luận Vi phẫu Bột Bạch chỉ (rễ) Có Có Cần tây (quả) Không đề cập Có Cần tây (toàn cây) Có Có Độc hoạt (rễ) Có Không đề cập Đương quy (rễ) Có Có Đương quy di thực (rễ) Có Có Khương hoạt (thân rễ và rễ) Không đề cập Có Phòng phong (rễ) Có Có Rau má (toàn cây) Có Không đề cập Sa sâm (rễ) Có Có Sài hồ (rễ) Có Có Tiền hồ (rễ) Có Có Xà sàng (quả) Có Có Xuyên khung (thân rễ) Có Có 1.
Tổng quan các nghiên cứu về tinh dầu các loài Apiaceae ở Việt Nam Nghiên cứu về thành phần hóa học của tinh dầu các loài thuộc họ Apiaceae ở Việt Nam không nhiều, chỉ có một số loài được nghiên cứu như Thì là thân gỗ việt [36], Thì là thân gỗ leonid [36], Đương quy (Angelica sinensis) [15], Rau mùi (Coriandrum sativum) [17] và Ngò gai (Eryngium foetidum) [21]. Trần Huy Thái và cộng sự (2012) đã báo cáo về thành phần hóa học của tinh dầu từ lá và thân của 2 loài Thì là thân gỗ việt (thu hái tại Quản Bạ, Hà Giang) và Thì là thân gỗ leonid (thu hái tại Đồng Văn, Hà Giang). Kết quả cho thấy rằng các thành phần được 6 xác định chiếm tới hơn 96% của toàn bộ lượng tinh dầu và số lượng các hợp chất được xác định trong tinh dầu thân cao hơn trong tinh dầu lá. Các thành phần chính ở cả hai loài đều có sabinen, (Z)-β-ocimen, và terpinen-4-ol.