mở đầu cho thời kì nghiên cứu hệ thực vật ở Nga. Các nhà sinh vật học Nga tập trung nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Brummit (1992) [29,30] chuyên gia của Phòng Bảo Tàng Thực Vật Hoàng Gia Anh đã thống kê tiêu bản thực vật có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành: Khuyết là thông (Plilotophyta), Thông đa (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dƣơng xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae). Trong đó, ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 họ, 454 chi và đƣợc chia làm hai lớp: Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) gồm 10.715 chi, 357 họ và Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) gồm 2.
Takhtajan Viện thực vật, Acmenia đã có những đóng góp to lớn cho khoa học phân loại thực vật. Trong cuốn “Diversity and Classifcation of Flowering Plant” (1997) [37], đã thống kê và phân chia toàn bộ thực vật Hạt kín trên thế giới khoảng 260.000 loài, vào khoảng 13.500 chi, 591 họ, 232 bộ thuộc 16 phân lớp và 2 lớp. Trong đó Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) gồm 11 phân lớp, 175 bộ, 458 họ, 10.500 chi; Lớp Một lá mầm 4 (Monocotyledoneae) có không dƣới 195.000 loài, gồm 6 phân lớp, 57 bộ,133 họ, trên 300 chi và khoảng 65. Nghiên cứu ở Việt Nam Việt Nam là một trong số những trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới.
Rừng nƣớc ta chiếm tới ¾ tổng diện tích đất đai toàn quốc, mang đầy đủ những đặc điểm của rừng nhiệt đới. Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam đã có từ lâu, song việc điều tra, nghiên cứu thực vật với quy mô lớn mới chỉ bắt đầu vào thời Pháp thuộc. Một số danh y đƣợc biết tới nhờ việc nghiên cứu về thực vật có khả năng chữa bệnh nhƣ: Tuệ Tĩnh, Hải Thƣợng Lãn Ông,… Các công trình nghiên cứu về thực vật có giá trị đều do các tác giả nƣớc ngoài thực hiện nhƣ: “Thực vật chí Nam Bộ” (1790) của Loureiro, “Thực vật rừng Nam Bộ” (1879-1907) của Pierre, ông đã tìm ra và đặt tên cho nhiều loài mới ở Việt Nam. Các nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở thống kê và mô tả thực vật ở Việt Nam [34].
Cuối thế kỉ XIX A.Chevalier (1919) đã có những nghiên cứu vê các hệ sinh thái rừng Bắc Bộ. Dƣơng Hàn Y (1956) công bố nghiên cứu về “Tài nguyên rừng rú ở Việt Nam”. Nổi bật nhất có thể kể đến công trình “Thực vật chí đại cƣơng Đông Dƣơng” gồm 7 tập chính và 1 tập bổ sung, đƣợc công bố từ năm 1907 tới năm 1952 bới nhà thực vật học ngƣời Pháp H. Lecomte cùng cộng sự.
Trong công trình này tác giả đã thống kê, mô tả 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch của Đông Dƣơng trong đó có Việt Nam [33]. Đây là bộ sách có ý nghĩa lớn đối với các nhà thực vật học. Ngoài ra còn có bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam” (1960-2001), do Aubreville khởi xƣớng và chủ biên cùng nhiều tác giả khác. Tới nay đã công bố 31 tập nhỏ gồm 75 họ cây có mạch, nghĩa là chƣa tới 21% tổng số họ đã có, con số này còn quá ít so với số loài thực vật ở 3 nƣớc Đông Dƣơng [28].
5 Bên cạnh đó còn có công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” (1978), của Thái Văn Trừng, đã thống kê ở khu hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1. Ngành Hạt trần có 39 loài (0.77%) và còn lại là nhóm Quyết thực vật. Trong ngành Hạt kín thì Lớp Hai lá mầm có 4.855) và Lớp Một lá mầm có 1. Trong tác phẩm “Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam” (1978), tác giả Thái Văn Trừng đã tiếp tục hoàn thiện quan điểm “Sinh thái phát sinh quần thể trong các kiểu thảm thực vật”, công trình này đã mô tả, phân tích cấu trúc và đề xuất những định hƣớng nhằm phục hồi và bảo vệ các hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam.
Một số công trình khác tiêu biểu nhƣ: - Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), (1999-2000) có bộ “Cây cỏ Việt Nam”, tác giả đã thống kê có mổ tả kèm hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam [14,15] - Tập thể các Nhà thực vật học Việt Nam (2001,2003,2005) biên soạn cuốn “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” và “Bộ Thực vật chí Việt Nam”. Hiện nay đã xuất bản đƣợc 11 tập và đây là những tài liệu rất hữu ích cho các nghiên cứu về thực vật Việt Nam tiếp theo. - Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.582 chi và 395 họ. Năm 1988, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời cho xuất bản cuốn “Đa dạng thực vật vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Pan”, đã thống kê đƣợc 2.024 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 771 chi, 200 họ, và 6 ngành [31].
- Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài. - Nguyễn Tiến Bân(2005) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan có 10. 6 - Lê Trần Chấn nghiên cứu, thống kê hệ thực vật Việt Nam có 10.298 chi, 285 họ của 7 ngành thực vật bậc cao có mạch trong cuốn một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam” [6]. - Trần Đình Lý và cộng sự, (1993), 1900 Cây có ích ở Việt Nam.
- Võ Văn Chi 1997, (2012) Từ điển cây thuốc Việt Nam. - Võ Văn Chi và Trần Hợp, (1999) Cây có ích ở Việt Nam. - Đỗ Tất Lợi, (1977), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. - Trần Hợp, (2002), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam.
Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật tại các Vƣờn quốc gia: - Nguyễn Nghĩa Thìn – Nguyễn Bá Thụ ở VQG Cúc Phƣơng (1995). - Nguyễn Nghĩa Thìn – Nguyễn Thanh Nhàn ở VQG Pù Mát (2004). - Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự ở VQG Bạch Mã (2003). - Lê Thị Huyên ở VQG Cát Bà (1998).
- Trần Minh Hợi ở VQG Minh Sơn (2005). Nghiên cứu hệ thực vật tại Lào Cai Các nghiên cứu về hệ thực vật tại tỉnh Lào Cai còn rất ít. Trong đó nổi bật có các công trình của tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn nhƣ: - Tính đa dạng của thực vật có mạch ở vùng núi cao Sa Pa – Phansipan. ĐHQGHN 1988 - Kiểm kê và nghiên cứu bổ sung đa dạng thực vật ở VQG Hoàng Liên, Sa Pa, Lào Cai làm cơ sở cho du lịch sinh thái, (Đề tài trọng điểm 613904) 2004-2005 KHCN do Bộ TN-MT.
Ngoài ra còn có các luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về thực vật tại Lào Cai: - Luận văn Thạc sĩ Lâm học: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái học loài Mỡ Sa pa (Manglietiasapaensis N. Vu) tại Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên – tỉnh Lào Cai của tác giả Lê Xuân Thắng. - Luận văn Thạc sĩ Lâm học: “Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng trong một số trạng thái thảm thực vật ở Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên tỉnh Lào Cai” của tác giả Nguyễn Văn Năm. 7 Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu về thực vật tại một số vùng khác trong tỉnh Lào Cai, tuy vậy nhƣng cũng vẫn còn nhiều vùng chƣa có hoặc ít đƣợc đề cập đến.
Hiện tại mới chỉ có dự án “Nghiên cứu thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai” là đã tìm hiểu, nghiên cứu về khu vực rừng Y Tý. MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc đặc điểm của hệ thực vật trong khu vực nghiên cứu, đánh giá tính đa dạng sinh học và các tiềm năng của chúng. - Định hƣớng, đề xuất đƣợc các giải pháp quản lí và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật bậc cao có mạch phân bố tự nhiên tại khu vực nghiên cứu. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đƣợc thực hiện trên các tuyến điều tra trên khu vực rừng Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai trong thời gian từ ngày 13/2 đến ngày 13/5/2017. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu các đặc trƣng của hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu - Xác định các tác động đến tài nguyên thực vật rừng tại khu vực nghiên cứu - Đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn hệ thực vật hợp lý. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.
Kế thừa tài liệu Là phƣơng pháp thu thập các số liệu, thông tin cần thiết từ các tài liệu, văn bản hiện có, những số liệu thống kê hàng năm có liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu nhƣ: - Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tài nguyên rừng và các nguồn tài nguyên khác. - Các loại bản đồ của khu vực nghiên cứu. - Các tài liệu nghiên cứu về thực vật giúp tra cứu thông tin để giám định loài, xác định các đặc điểm sinh học, sinh thái… - Bảng số liệu thống kê các chỉ tiêu rừng qua các năm. Điều tra sơ thám - Tiến hành điều tra sơ bộ khu vực nghiên cứu, nắm bắt đƣợc địa hình, điều kiện thời tiết để xác định đƣợc tuyến điều tra phù hợp, chuẩn bị các dụng cụ cần thiết cho công tác điều tra.
Điều tra theo tuyến Đối với đề tài điều tra hệ thực vật tại một khu vực ta áp dụng phƣơng pháp điều tra trên tuyến để điều tra và đánh giá hệ thực vật. Cụ thể: - Dựa vào bản đồ địa hình của khu vực nghiên cứu để thiết lập tuyến điều tra khả thi nhất, phù hợp với khả năng của bản thân mà vẫn đáp ứng đƣợc yêu cầu của đề tài. - Vì địa hình phức tạp, độ dốc lớn, hệ thực vật dày đặc nên hình dạng tuyến, cự li tuyến và độ dài tuyến đƣợc thiết kế linh hoạt sao cho có thể thu thập đƣợc nhiều mẫu vật nhất. - Về thu thập mẫu: Ngƣời điều tra thu thập lại tất cả các loài thực vật bắt gặp trên tuyến.
Tùy thuộc vào hệ thực vật ngoài thực tế mà có các cách thu thập mẫu khác nhau: + Đối với những cá thể thực vật nhỏ: bẻ cành, giữ đầy đủ và nguyên vẹn lá và hoa, quả.(nếu có) để xác định các đặc điểm loài. + Đối với những cá thể quá lớn, tán cao không thể bẻ mẫu: Đẽo một chút vỏ ở gốc, quan sát thân, gốc, màu sắc gỗ, màu nhựa, ngửi mùi, quan sát tán, nhặt vật rơi lá rụng…… - Khi thu mẫu phải ghi chép lại các đặc điểm nổi bật, đặc biệt là những đặc điểm nhỏ, không thể chụp ảnh lại để công tác giám định đƣợc chính xác.