Đặc điểm kiểu gen và kiểu hình của trẻ tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu 21 hydroxylase thể nam hóa đơn thuần điều trị tại bệnh viện nhi trung ương từ 11 2016 03 2023

Nghiên cứu đặc điểm kiểu gen, kiểu hình ở trẻ tăng sản thượng thận bẩm sinh (CAH) thể nam hóa đơn thuần do thiếu 21-hydroxylase tại BV Nhi TW giai đoạn 2016-2023.

Chuyên ngành

Bác sĩ đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

71
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH, BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu 21-hydroxylase

1.2. Dịch tễ học

1.3. Đặc điểm di truyền học

1.4. Sinh bệnh học của bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu 21-hydroxylase

1.5. Tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu 21-hydroxylase thể nam hóa đơn thuần

1.6. Đặc điểm lâm sàng theo lứa tuổi

1.7. Đặc điểm cận lâm sàng

1.8. Đặc điểm kiểu gen

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Phương pháp thu thập thông tin

2.5.3. Mô tả kiểu hình và kiểu gen của các bệnh nhân

2.5.4. Mô tả mối tương quan kiểu gen – kiểu hình

2.6. Phương tiện nghiên cứu

2.7. Biến số nghiên cứu

2.8. Đặc điểm chung

2.9. Đặc điểm kiểu hình

2.10. Đặc điểm kiểu gen

2.11. Tương quan kiểu gen- kiểu hình

2.12. Phương pháp xử lý số liệu

2.13. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

3.2. Kiểu hình của trẻ tăng sản thượng thận bẩm sinh thể nam hóa đơn thuần

3.3. Kiểu gen của trẻ tăng sản thượng thận bẩm sinh thể nam hóa đơn thuần

3.4. Mối tương quan giữa kiểu gen và kiểu hình

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu

4.2. Các đột biến và dạng đột biến

4.3. Kiểu gen của bệnh nhân TSTTBS thể NHĐT

4.4. Kiểu hình kiểu gen và giá trị dự báo dương tính

4.5. Đặc điểm kiểu gen – kiểu hình của trẻ TSTTBS thể NHĐT

4.6. Tương quan kiểu gen – kiểu hình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Bệnh án nghiên cứu

Phụ lục 2. Chẩn đoán bệnh TSTTBS do thiếu 21-OH thể NHĐT

DANH SÁCH BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Tăng Sản Thượng Thận Bẩm Sinh Tổng Quan Dịch Tễ CAH

Tăng sản thượng thận bẩm sinh (CAH) là một nhóm bệnh di truyền do đột biến gen lặn trên nhiễm sắc thể thường. Nguyên nhân chính là do thiếu hụt một trong các enzyme cần thiết cho quá trình tổng hợp hormone vỏ thượng thận. Hơn 90% các trường hợp CAH là do thiếu 21-hydroxylase, dẫn đến thiếu cortisol, aldosteron (hoặc không), và tăng tổng hợp androgen. Biểu hiện lâm sàng chia thành hai thể: thể nặng (cổ điển) và thể nhẹ (không cổ điển). Các chương trình sàng lọc và phân tích di truyền cho thấy CAH do thiếu 21-OH là một trong những rối loạn phổ biến, với tỷ lệ mắc bệnh khoảng 1:10.000 trẻ sơ sinh. Ở Việt Nam, đây là một trong những bệnh nội tiết di truyền thường gặp nhất ở trẻ em.

1.1. Tỉ Lệ Mắc CAH Yếu Tố Dân Tộc Dịch Tễ Học

Tỷ lệ mắc CAH thể cổ điển được báo cáo là từ 1:5.000 và thay đổi tùy vào chủng tộc, dân tộc. Một chương trình sàng lọc sơ sinh toàn cầu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở vùng Yupik Eskimos (1/282) và La Reunion (1/2141). Tỷ lệ mắc bệnh trung bình trên toàn cầu ước tính là 1:14.199 trẻ sinh sống. Tại Việt Nam, trung bình mỗi năm có 40 – 60 trẻ mới mắc được chẩn đoán. CAH chiếm tỷ lệ 60,7% bệnh lý tuyến thượng thận và 2% các bệnh nội tiết điều trị tại Trung tâm Nội tiết, Chuyển hóa, Di truyền và Liệu pháp phân tử, Bệnh viện Nhi Trung ương [12, 15].

1.2. CAH Thể Nam Hóa Đơn Thuần Đặc Điểm Lâm Sàng

CAH thể nam hóa đơn thuần (NHĐT) chiếm 1/4 tỷ lệ mắc của CAH thể cổ điển do thiếu 21-OH. Tuy nhiên, thể NHĐT thường được chẩn đoán muộn do triệu chứng không rầm rộ. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra rối loạn phát triển giới tính và dậy thì sớm ở trẻ em. Việc xác định kiểu gen là cần thiết để chẩn đoán và điều trị bệnh sớm, tránh nam hóa cơ quan sinh dục ở thai nhi gái cần can thiệp phẫu thuật hay dậy thì sớm giả ở trẻ trai.

II. Gen CYP21A2 Đột Biến Cách Chẩn Đoán Di Truyền CAH

Phân tích di truyền gen CYP21A2, mã hóa cho enzyme 21-hydroxylase, là phương pháp chuẩn mực để chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa CAH. Các tiến bộ về phân tích di truyền không chỉ cải thiện khả năng chẩn đoán các thể nhẹ nhất của bệnh mà còn cho phép hiểu rõ hơn về tương quan kiểu gen - kiểu hình trong CAH. Tuy nhiên, các nghiên cứu mô tả các dạng đột biến gen CYP21A2 ở bệnh nhân CAH thể NHĐTkiểu hình có hạn chế là cỡ mẫu nhỏ.

2.1. Đột Biến Gen CYP21A2 Yếu Tố Di Truyền CAH

CAH là bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường. Người mắc bệnh có kiểu gen đồng hợp tử lặn (aa) và nhận 1 allele từ bố và 1 allele từ mẹ. Nếu cả bố và mẹ không mắc bệnh sinh ra con mắc CAH, kiểu gen của bố và mẹ là dị hợp tử bắt buộc (Aa). Thể cổ điển do thiếu 21-OH xuất hiện dưới sự có mặt của 2 allele bị ảnh hưởng nặng. Thể không cổ điển thường xuất hiện từ sự kết hợp của 2 allele bị ảnh hưởng nhẹ hoặc thể dị hợp tử gồm 1 allele thể nặng và 1 allele thể nhẹ.

2.2. Xét Nghiệm Di Truyền Chẩn Đoán CAH Chính Xác

Người có kiểu gen dị hợp tử có thể tăng nhẹ nồng độ 17-hydroxyprogesteron (17-OHP) khi dùng test kích thích ACTH. Tuy nhiên, xét nghiệm hormone không đủ chính xác để xác định người mang gen. Do đó, phát hiện đột biến gen là cần thiết trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Nghiên cứu phả hệ các đột biến nhằm mục đích xác định sự hiện diện của đột biến trong các allele khác nhau và các đột biến mới phát sinh.

III. Cơ Chế Bệnh Sinh CAH Thiếu 21 Hydroxylase Gây Ra Gì

Sự thiếu 21-hydroxylase trong quá trình tổng hợp cortisol dẫn đến CAH. Biến đổi về nồng độ cortisol huyết tương sẽ tác động đến trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận, điều hòa bài tiết ACTH và CRH. Bất cứ tình trạng CAH nào gây giảm nồng độ cortisol huyết tương đều dẫn tới tăng nồng độ ACTH. ACTH kích thích sản xuất dư thừa các sản phẩm của tuyến thượng thận, dẫn tới sự ứ đọng số lượng lớn các tiền chất hormone. Kiểu hình CAH phụ thuộc vào loại hormone thiếu và loại hormone dư thừa.

3.1. Ảnh Hưởng Thiếu 21 OH Mất Muối Nam Hóa

Giảm tổng hợp cortisol và aldosterone dẫn tới kiểu hình mất muối trên lâm sàng. Khoảng 3/4 bệnh nhân CAH không thể tổng hợp đủ aldosterone, còn được gọi là thể mất muối (MM). Sự thiếu cortisol làm nặng thêm triệu chứng của tình trạng thiếu aldosterone. Sự tích tụ của 17-OHP, tiền chất steroid, chuyển sang con đường tổng hợp androgen, làm sản xuất quá mức androgen.

3.2. Steroidogenesis Quá Trình Tổng Hợp Hormone Vỏ Thượng Thận

Hormone vỏ thượng thận là steroid, chuyển hóa từ cholesterol. Bước đầu tiên là chuyển cholesterol thành pregnenolone, xúc tác bởi enzyme P450, điều hòa bởi ACTH. Sau khi hình thành pregnenolone, quá trình xảy ra theo con đường “delta 5” hoặc “delta 4”. Progesterone là điểm xuất phát trong tổng hợp mineralocorticoid, glucocorticoid được tổng hợp từ 17α-hydroxyprogesterone.

IV. Biểu Hiện Lâm Sàng Hình Thái Trẻ CAH Cách Nhận Biết

Biểu hiện lâm sàng của CAH thể NHĐT ở trẻ gái thường thấy là nam hóa cơ quan sinh dục ngoài ở các mức độ khác nhau (theo thang Prader). Trẻ trai có thể không có triệu chứng rõ ràng khi sinh hoặc có biểu hiện to tinh hoàn, dương vật to. Các biểu hiện khác có thể bao gồm dậy thì sớm, tăng trưởng nhanh ở giai đoạn đầu đời và sau đó chiều cao trưởng thành thấp hơn dự kiến. Ở thể NHĐT, các triệu chứng có thể nhẹ hơn và xuất hiện muộn hơn so với thể mất muối.

4.1. Đánh Giá Nam Hóa Thang Điểm Prader

Thang điểm Prader được sử dụng để đánh giá mức độ nam hóa cơ quan sinh dục ngoài ở trẻ gái mắc CAH. Thang điểm này phân loại từ độ 1 (âm vật hơi to) đến độ 5 (cơ quan sinh dục ngoài hoàn toàn giống nam giới). Việc đánh giá chính xác mức độ nam hóa giúp định hướng chẩn đoán và theo dõi hiệu quả điều trị.

4.2. Các Triệu Chứng Khác Dậy Thì Sớm Tăng Trưởng

Ngoài nam hóa cơ quan sinh dục, trẻ mắc CAH thể NHĐT có thể có các triệu chứng khác như dậy thì sớm, tăng trưởng nhanh ở giai đoạn đầu đời và sau đó chiều cao trưởng thành thấp hơn dự kiến. Việc theo dõi sát sự phát triển và dậy thì của trẻ là rất quan trọng để phát hiện sớm và điều trị kịp thời các biến chứng.

V. Nghiên Cứu Gen Hình Thái CAH Kết Quả Bàn Luận

Nghiên cứu về đặc điểm genhình thái của trẻ tăng sản thượng thận bẩm sinh (CAH) thể nam hóa đơn thuần do thiếu 21-hydroxylase tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy sự đa dạng về đột biến gen CYP21A2 và mối tương quan giữa kiểu genkiểu hình. Các kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng để cải thiện chẩn đoán, điều trị và tư vấn di truyền cho bệnh nhân CAH và gia đình.

5.1. Tương Quan Kiểu Gen Kiểu Hình Ý Nghĩa Dự Báo

Nghiên cứu về tương quan kiểu genkiểu hình giúp áp dụng các liệu pháp điều trị bổ sung mới và tối ưu hóa điều trị trong việc định liều steroid thay thế phù hợp nhất, giảm hậu quả do quá liều steroid. Tuy nhiên, sự tương quan này không phải lúc nào cũng tuyệt đối, do đó cần kết hợp với các yếu tố lâm sàng khác để đưa ra quyết định điều trị tối ưu.

5.2. Các Dạng Đột Biến CYP21A2 Đặc Điểm Nhóm Nghiên Cứu

Nghiên cứu xác định các dạng đột biến gen CYP21A2 phổ biến ở bệnh nhân CAH thể NHĐT tại Việt Nam. Việc hiểu rõ đặc điểm các đột biến này giúp chẩn đoán chính xác và đánh giá nguy cơ cho các thành viên khác trong gia đình. Các kỹ thuật sinh học phân tử tiên tiến đã bắt đầu được nghiên cứu ứng dụng trong chẩn đoán trước sinh và sau sinh cho bệnh CAH.

VI. Hướng Dẫn Chẩn Đoán Điều Trị CAH Cập Nhật Tiên Tiến

Chẩn đoán sớm CAH thông qua sàng lọc sơ sinh và xét nghiệm di truyền là rất quan trọng. Điều trị CAH bao gồm liệu pháp thay thế hormone (cortisol và aldosterone) và phẫu thuật chỉnh hình cơ quan sinh dục nếu cần thiết. Theo dõi sát các biến chứng và tư vấn di truyền cho gia đình là những phần quan trọng trong quản lý CAH.

6.1. Sàng Lọc Sơ Sinh Xét Nghiệm Phát Hiện CAH Sớm

Sàng lọc sơ sinh giúp phát hiện sớm CAH ở trẻ sơ sinh, cho phép can thiệp điều trị kịp thời và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm. Xét nghiệm di truyền xác nhận chẩn đoán và cung cấp thông tin về kiểu gen giúp tiên lượng bệnh và tư vấn di truyền.

6.2. Liệu Pháp Hormone Phẫu Thuật Điều Trị CAH Hiệu Quả

Liệu pháp thay thế hormone (cortisol và aldosterone) giúp điều chỉnh sự thiếu hụt hormone và kiểm soát các triệu chứng của CAH. Phẫu thuật chỉnh hình cơ quan sinh dục có thể cần thiết ở trẻ gái có nam hóa nặng. Việc theo dõi và điều chỉnh liều hormone định kỳ là rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ.

16/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu 21-hydroxylase 1. Định nghĩa Tăng sản thượng thận bẩm sinh (TSTTBS, congenital adrenal hyperplasia - CAH) bao gồm một nhóm các bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường, do khiếm khuyết một phần hoặc hoàn toàn của một trong số các enzyme tham gia tổng hợp cortisol từ cholesterol ở tuyến thượng thận. Trong đó, phổ biến nhất là thể thiếu enzyme 21- hydroxylase.

Theo nghiên cứu của White và cộng sự, thiếu enzyme 21- OH chiếm đến hơn 90% các trường hợp mắc bệnh TSTTBS đã được báo cáo [5]. Rối loạn tổng hợp enzyme 21-OH có liên quan đến đột biến xảy ra trên gen CYP21A2, thuộc cánh ngắn NST số 6 (6p21. Thiếu enzyme 21-OH liên quan chặt chẽ đến biểu hiện mất muối và nam hóa trên lâm sàng [13]. Dịch tễ học Tỷ lệ mắc thể cổ điển được báo cáo là từ 1:5.000, và thay đổi tùy vào chủng tộc, dân tộc [13].

Songya và cộng sự đã thực hiện một chương trình sàng lọc sơ sinh (SLSS) trên toàn cầu tại các địa điểm như Pháp, Ý, Nhật Bản, New Zealand, Scotland và Hoa Kỳ. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất gặp ở 2 quần thể là vùng Yupik Eskimos thuộc tây nam Alaska với tỷ lệ 1/282 và vùng La Reunion của Pháp với tỷ lệ là 1/2141. Bên cạnh những quần thể trên, 1.310 trẻ sơ sinh được sàng lọc từ năm 1980 đến 1988 trong đó có 77 trẻ được xác định mắc TSTTBS. Do đó, tỷ lệ mắc bệnh trung bình trên toàn cầu ước tính là 1:14.199 trẻ sinh sống, tỷ lệ người lành mang gen là 1:60.

Tỷ lệ mắc bệnh trong chủng tộc người da trắng là khoảng 1:11.279) và tỷ lệ người lành mang gen là 1:55. Tỷ lệ thể MM là 1:18.310) so sánh với thể NHĐT là 1:57.310), cao gấp khoảng 3 lần [14]. Tại Việt Nam, trung bình mỗi năm có 40 – 60 trẻ mới mắc được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương. TSTTBS chiếm tỷ lệ 60,7% bệnh lý của tuyến thượng thận và chiếm 2% các bệnh nội tiết điều trị tại Trung tâm Nội tiết, Chuyển hóa, Di truyền và Liệu pháp phân tử, Bệnh viện Nhi Trung ương [12, 15].

Đặc điểm di truyền học TSTTBS là bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường, theo quy luật phân li của Menden, mỗi tính trạng do một cặp allele quy định, trong đó allele bình 3 thường hay allele trội (A) và allele đột biến hay allele lặn (a). Như vậy, người mắc bệnh có kiểu gen đồng hợp tử lặn (aa) và được nhận 1 allele từ bố và 1 allele từ mẹ trong quá trình phân bào giảm nhiễm để hình thành giao tử. Nếu cả bố và mẹ cùng không mắc bệnh sinh ra con mắc bệnh TSTTBS thì kiểu gen của bố và mẹ là dị hợp tử bắt buộc (Aa). Trường hợp đột biến mới xảy ra rất hiếm gặp [16].

Một trong những cách dễ dàng nhất để xác định kiểu di truyền là dựa vào điều tra phả hệ. Bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường ảnh hưởng tới cả nam và nữ theo tỷ lệ như nhau. Bệnh xuất hiện gián đoạn qua các thế hệ trong gia đình, do những cá thể mắc bệnh thường là con của cặp bố mẹ mang allele đột biến mà không bị bệnh. Thường gặp bệnh xuất hiện trong cùng một thế hệ (di truyền ngang – horizontal transmission).

Việc điều tra phả hệ cũng có ý nghĩa trong dự đoán kiểu gen và sàng lọc trước sinh [17]. Sơ đồ di truyền của bệnh di truyền gen lặn trên NST thường Ngày nay, nhờ sự phát triển của kỹ thuật phân tích đột biến gen, TSTTBS do thiếu 21-OH được biết đến là một bệnh phức tạp do kết hợp các đột biến khác nhau tạo nên kiểu gen dị hợp tử gây bệnh. Thể cổ điển do thiếu 21-OH có xu hướng xuất hiện dưới sự có mặt của 2 allele bị ảnh hưởng nặng và thể KCĐ thường xuất hiện từ sự kết hợp của 2 allele bị ảnh hưởng nhẹ hoặc thể dị hợp tử gồm 1 allele thể nặng và 1 allele thể nhẹ [18]. 4 Nghiên cứu phả hệ các đột biến trên cá thể mắc bệnh nhằm mục đích xác định sự hiện diện của đột biến trong các allele khác nhau và các đột biến mới phát sinh.

Người có kiểu gen dị hợp tử có thể tăng nhẹ nồng độ 17- hydroxyprogesteron (17- OHP) khi dùng test kích thích ACTH. Tuy nhiên xét nghiệm hormone không đủ chính xác để xác định người mang gen; do đó, phát hiện đột biến gen là cần thiết trong chẩn đoán và điều trị bệnh [19]. Sinh bệnh học của bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu 21- hydroxylase 1. Sinh lý của vỏ thượng thận Vỏ thượng thận tiết ra hai loại hormone chính: mineralocorticoid và glucocorticoid.

Ngoài ra, còn một lượng nhỏ hormone sinh dục, androgen, tác dụng giống testosterone. Trong đó: Lớp cầu nằm dưới vỏ tuyến, chiếm khoảng 15% vỏ thượng thận, tiết số lượng đáng kể aldosterone, do chứa enzyme tổng hợp aldosterone. Lớp bó nằm ở giữa và là vùng lớn nhất, chiếm khoảng 75% vỏ thượng thận, tiết các glucocorticoid: cortisol và corticosterone, cùng một lượng nhỏ hormone sinh dục (adrenal androgen) và estrogen. Lớp lưới là vùng trong cùng của vỏ, tiết hormone sinh dục dehydroepiandrosterone và androstenedion, cũng như một lượng nhỏ estrogen và một ít glucocorticoid [20].

Quá trình tổng hợp hormone vỏ thượng thận Hormone vỏ thượng thận là steroid, chuyển hóa từ cholesterol. Mặc dù tế bào vỏ thượng thận có thể tổng hợp một lượng nhỏ cholesterol từ acetate, nhưng khoảng 80% cholesterol sử dụng trong tổng hợp steroid được cấp bởi các lipoprotein trọng lượng phân tử thấp (low-density lipoprotein – LDL) trong huyết tương. Bước đầu tiên là phản ứng chuyển cholesterol thành pregnenolone, xúc tác bởi họ các enzyme P450, điều hòa bởi hormone tuyến yên adrenocorticotropic hormone (ACTH). Sau khi hình thành pregnenolone, quá trình trên được xảy ra theo con đường “delta 5” (17α- hydroxypregnenolone, dehydroepiandrosterone, testosterone) hoặc qua con đường “delta 4” (bắt đầu từ progesterone).

Progesterone là điểm xuất phát trong tổng hợp mineralocorticoid, trong đó, glucocorticoid được tổng hợp từ chất trung gian là 17α- hydroxyprogesterone [20, 21]. Tổng hợp hormone steroid ở thai nhi bình thường (từ Pasterski, 2017) [22] Điều hòa bài tiết cortisol: Không giống như bài tiết aldosteron ở lớp cầu, được kiểm soát chính bởi nồng độ kali ngoại bào và angiotensin II tác động trực tiếp vào các tế bào vỏ thượng thận, cortisol được điều hòa bởi ACTH tuyến yên. ACTH là polypeptid 39 acid amin được tiết ra từ thùy trước tuyến yên. Bài tiết ACTH bị kiểm soát bởi hormone giải phóng corticotropin vùng dưới đồi (CRH).

Thùy trước tuyến yên có thể bài tiết ACTH số lượng ít khi không có CRH. ACTH kiểm soát bài tiết của vỏ thượng thận qua các protein enzyme kinase A, tham gia vào phản ứng chuyển cholesterol thành pregnenolone. Điều này giải thích tại sao ACTH cần thiết cho hình thành bất kỳ hormone nào của vỏ thượng thận. Kích thích kéo dài của ACTH không chỉ làm tăng bài tiết hormone mà còn gây phì đại và tăng sinh các tế bào của vỏ thượng thận, đặc biệt là lớp bó và lớp lưới, nơi bài tiết cortisol và androgen.

Ngoài ra, cortisol cũng có tác dụng điều hòa ngược âm tính trực tiếp: (1) giảm CRH từ vùng dưới đồi, (2) giảm ACTH từ thùy trước tuyến yên. Cơ chế điều hòa này giúp điều chỉnh nồng độ cortisol, bất cứ khi nào nồng độ cortisol tăng cao quá mức, điều hòa ngược làm giảm bài tiết ACTH để đưa nồng độ cortisol về bình thường [20]. Tác dụng trên phát triển giới tính của androgen: 6 Androgen có liên quan đến sự phát triển các kiểu hình đặc trưng của nam giới từ hình thành phôi, dậy thì, sinh tinh, hành vi tình dục và khả năng sinh sản. Ngoài ra, androgen cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển hệ cơ quan sinh dục nữ và các chức năng của chúng, như sự hình thành nang trứng, làm tổ phôi thai, phát triển tử cung, vú và các đặc tính sinh dục thứ phát [1].

Quá trình biệt hóa giới tính ở thai nhi (từ White, 2000) [1] Trên là nồng độ 17-OHP thai nhi trong nước ối theo từng tuần thai ở thai nhi thiếu enzyme 21-hydroxylase (ô vuông trắng) và trẻ bình thường (hình tròn đen). Dưới là 5 diễn biến chính của quá trình biệt hóa giới tính theo tuổi thai. Androgen có vai trò quan trọng trong xác định giới tính sơ sinh. Phôi thai ban đầu gồm hai bộ phận sinh dục, một bộ phận có thể phát triển thành bộ phân sinh dục nữ (ống Muller) và một bộ phận có thể phát triển thành bộ phận sinh dục nam (ống Wolf), sự khác biệt giới tính được kiểm soát về mặt di truyền và liên quan đến sự phát 7 triển có chọn lọc của một ống này và thoái triển ống kia.

Cụ thể, các yếu tố gồm NST Y, testosterone và nội tiết tố AMH quyết định sự biệt hóa của cơ quan sinh dục thai nhi. Nếu thai nhi có NST 46,XX, testosterone không tồn tại, ống Wolf thoái hóa và do không có AMH nên ống Muller phát triển thành vòi tử cung, tử cung, cổ tử cung và 2/3 trên của âm đạo, phần còn lại của ống Wolf tạo nên âm vật ở nữ. Ở thai nam, nồng độ cao testosterone do tế bào Leydig thai nhi tiết ra từ tuần thứ 7, kích thích ống Wolf phát triển thành bộ phận sinh dục nam gồm mào tinh hoàn, ống dẫn tinh và túi tinh, đồng thời AMH do tế bào Sertoli của tinh hoàn tiết ra cản trở sự phát triển của bộ phận sinh dục nữ. Bộ phận sinh dục ngoài được phát triển dưới kiểm soát của testosterone qua việc chuyển đổi thành 5α-dihydrotestosterone (DHT), hoạt tính mạnh hơn [1, 21].

Bệnh học tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu 21-hydroxylase Sự thiếu bất kỳ enzyme nào trong quá trình tổng hợp cortisol đều sẽ dẫn tới TSTTBS. Biến đổi về nồng độ cortisol huyết tương là các feedback ngược âm tính phản hồi qua trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận, điều hòa bài tiết ACTH và CRH. Vì vậy, bất cứ tình trạng TSTTBS nào gây giảm nồng độ cortisol huyết tương đều dẫn tới tăng nồng độ ACTH. ACTH kích thích sản xuất dư thừa các sản phẩm của tuyến thượng thận mà quá trình tổng hợp không bị ảnh hưởng bởi enzyme bị thiếu và dẫn tới sự ứ đọng số lượng lớn các tiền chất hormone.

Ngoài ra do ảnh hưởng kích thích của ACTH, các tế bào tuyến thượng thận lớp bó và lớp lưới tăng sản, phì đại, dẫn tới thay đổi không chỉ tăng về kích thước, hình dáng mà còn về mật độ tuyến thượng thận, đặc điểm này thường được phát hiện ở thai nhi mắc bệnh thể cổ điển qua siêu âm thai trước sinh. Do đó mà gọi là TSTTBS [18]. Kiểu hình TSTTBS phụ thuộc vào loại hormone thiếu và loại hormone dư thừa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ