Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Bến En có tổng diện tích tự nhiên 14.734,67 ha theo Quyết định số 215/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, trong đó diện tích đất có rừng đạt 11.738,07 ha (chiếm 79,66%). Đây là một trong những trung tâm đa dạng sinh học trọng điểm của vùng Bắc Trung Bộ với hệ thống địa hình karst núi đá vôi kết hợp núi đất và hồ Sông Mực rộng 2.000 ha. Mặc dù hệ thực vật tại đây đã được ghi nhận qua nhiều cuộc điều tra, các dữ liệu chuyên sâu về từng họ thực vật có giá trị kinh tế và sinh thái cao vẫn còn nhiều khoảng trống.

Họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) trên thế giới có khoảng 2.600 loài thuộc 100 chi, trong đó Việt Nam đã ghi nhận 163 loài và dưới loài thuộc 26 chi. Tuy nhiên, các công trình trước đây tại Vườn quốc gia Bến En chỉ ghi nhận rải rác từ 7 đến 9 chi mà chưa có nghiên cứu chuyên biệt về cấu trúc taxon, dạng sống, yếu tố địa lý và tiềm năng ứng dụng. Đề tài luận văn thạc sĩ sinh học này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện tính đa dạng của họ Cỏ roi ngựa trên toàn bộ 147,35 km² diện tích vườn quốc gia trong giai đoạn từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp bộ dữ liệu phân loại học cập nhật, bổ sung 22 loài mới cho danh lục khu hệ thực vật Bến En. Đồng thời, kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học để hoạch định phương án bảo tồn nghiêm ngặt cho 11 loài đặc hữu Việt Nam và khai thác bền vững 45 loài có giá trị kinh tế, phục vụ phát triển dược liệu và nâng cao sinh kế cho hơn 56.369 người dân vùng đệm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn ứng dụng hệ thống phân loại thực vật kinh điển của Briquet (1897) và các bản cập nhật của Vũ Xuân Phương (2007) trong Thực vật chí Việt Nam làm khung phân loại họ Cỏ roi ngựa. Về mặt danh pháp, nghiên cứu tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế theo Bộ luật Tokyo (1994) và hệ thống sắp xếp chi của Brummitt (1992).

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp thang phân loại phổ dạng sống của Raunkiær (1934) cải tiến bởi Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) để phân tích khả năng thích nghi sinh thái của thực vật. Hệ thống phân chia yếu tố địa lý thực vật nhiệt đới châu Á và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) được sử dụng để xác định nguồn gốc phân bố cũng như giá trị sử dụng bản địa.

Nghiên cứu vận hành dựa trên 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:

  1. Bậc taxon phân loại (Taxonomic rank): Đơn vị phân loại chuẩn từ bậc chi đến loài và dưới loài.
  2. Dạng sống chồi trên (Phanerophytes - ký hiệu Ph): Nhóm thực vật có chồi sinh dưỡng cách mặt đất từ 25 cm trở lên trong mùa bất lợi.
  3. Yếu tố địa lý hệ thực vật (Phytogeographic element): Sự phân bố không gian phản ánh nguồn gốc phát sinh của loài.
  4. Tính đặc hữu sinh học (Endemism): Các loài chỉ phân bố tự nhiên trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
  5. Giá trị sử dụng tài nguyên thực vật: Tiềm năng kinh tế, y học và sinh thái học của các loài cây bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành thu thập cỡ mẫu gồm 106 tiêu bản thực vật thông qua 4 đợt khảo sát thực địa (tháng 9/2020, tháng 11/2020, tháng 1/2021 và tháng 3/2021), mỗi đợt làm việc liên tục 3 ngày. Phương pháp điều tra thực vật được thiết lập trên 7 tuyến khảo sát chuẩn hóa xuyên suốt các sinh cảnh chính, mỗi tuyến dài từ 4,5 km đến 5,0 km và mở rộng phạm vi thu mẫu sang hai bên 50 m. Phương pháp chọn mẫu tuyến điển hình được áp dụng nhằm bao quát toàn bộ các đai cao, vùng núi đá vôi, rừng phục hồi và thảm thực vật ven hồ Sông Mực.

Các mẫu vật được xử lý sơ bộ, ép sấy nhiệt độ tiêu chuẩn và phân tích hình thái so sánh tại phòng thí nghiệm Bộ môn Sinh học, Trường Đại học Hồng Đức. Quá trình định loại kết hợp đối chiếu tiêu bản chuẩn tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng các tài liệu định loại của Phạm Hoàng Hộ (2000) và Chen Shou-liang (1994). Lý do lựa chọn phương pháp hình thái so sánh kết hợp tham vấn chuyên gia phân loại học là nhằm đảm bảo độ chính xác tuyệt đối trong việc phân biệt các loài tương cận trong chi Clerodendrum và Callicarpa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa đã định loại được 54 loài và dưới loài thuộc 15 chi của họ Cỏ roi ngựa tại Vườn quốc gia Bến En, bổ sung 22 loài và 4 chi mới cho danh lục thực vật địa phương. Cấu trúc taxon ghi nhận sự phân hóa rõ rệt khi chi Ngọc nữ (Clerodendrum) giàu loài nhất với 17 loài (chiếm 31,48%), theo sau là chi Tử châu (Callicarpa) với 14 loài (chiếm 25,93%), chi Cách (Premna) với 6 loài (chiếm 11,11%), chi Đẻn (Vitex) với 4 loài (chiếm 7,41%), chi Lõi thọ (Gmelina) với 3 loài (chiếm 5,56%) và 10 chi còn lại mỗi chi sở hữu 1 loài (chiếm 1,85%).

Về phổ dạng sống, 100% số loài khảo sát đều thuộc nhóm cây chồi trên (Ph) với công thức tổng quát: Ph% = 18,52% Me + 22,22% Mi + 48,15% Na + 5,56% Hp + 5,56% Lp. Nhóm cây chồi trên lùn dạng cây bụi (Na) chiếm tỷ trọng áp đảo với 26 loài (48,15%), tiếp đến là nhóm cây gỗ nhỏ (Mi) với 12 loài (22,22%) và cây gỗ trung bình (Me) với 10 loài (18,52%).

Về mặt địa lý thực vật, yếu tố nhiệt đới châu Á chiếm ưu thế tuyệt đối với 35 loài (64,81%), trong đó yếu tố lục địa châu Á nhiệt đới chiếm 12,96%. Đáng chú ý, nghiên cứu ghi nhận 11 loài đặc hữu Việt Nam (chiếm 20,37%) như Tử châu lông dị hình (Callicarpa heterotricha), Tu hú petelot (Callicarpa petelotii), Bội tinh tím (Sphenodesma amethystina) và Cách balansa (Premna balansae).

Về giá trị kinh tế và y học, 45/54 loài (chiếm 83,33%) có giá trị sử dụng thực tiễn được phân vào 5 nhóm: 35 loài làm thuốc (64,81%), 22 loài cho tinh dầu (40,74%), 8 loài làm cảnh (14,81%), 7 loài lấy gỗ (12,96%) và 3 loài làm thực phẩm (5,56%). Có 20 loài tích hợp 2 giá trị và 5 loài tích hợp cùng lúc 3 giá trị sử dụng.

Thảo luận kết quả

Mặc dù diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia Bến En (147,35 km²) chỉ tương đương 0,05% diện tích đất liền cả nước, khu vực này lưu giữ tới 57,69% tổng số chi (15/26 chi) và 31,13% tổng số loài (54/163 loài) họ Cỏ roi ngựa của Việt Nam. Khi so sánh với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt (tỉnh Nghệ An) có diện tích 90.741 ha, Bến En chỉ bằng 16,24% về diện tích nhưng sở hữu số chi gấp 1,67 lần (15 so với 9 chi) và số loài gấp 1,2 lần (54 so với 45 loài).

Nguyên nhân dẫn đến sự đa dạng vượt bậc này bắt nguồn từ sự đan xen giữa núi đá vôi dạng karst và các dãy núi đất màu mỡ, kết hợp chế độ ẩm cao quanh hồ Sông Mực tạo nên nhiều vi sinh cảnh sinh thái đặc trưng. Sự chiếm ưu thế của cây bụi (Na chiếm 48,15%) phản ánh đặc điểm thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình phục hồi sau các tác động nhân sinh trong quá khứ.

Các tập dữ liệu trên có thể được biểu diễn trực quan hóa qua biểu đồ hình tròn về tỷ lệ dạng sống, biểu đồ cột so sánh tương quan taxon giữa Bến En với Pù Hoạt và bảng ma trận đối chiếu 11 loài đặc hữu với 5 phân nhóm công dụng dược liệu để phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn nguồn gen.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập vùng bảo vệ nghiêm ngặt đối với 11 loài thực vật đặc hữu Việt Nam: Ban Quản lý Vườn quốc gia Bến En phối hợp với Hạt Kiểm lâm Như Thanh và Như Xuân tiến hành khoanh vùng bảo vệ trọng điểm trên diện tích 6.388,30 ha vùng lõi, giảm thiểu 100% các hoạt động khai thác thực vật rừng trái phép trong giai đoạn 2022-2024.

  2. Triển khai mô hình nhân giống và phát triển cây dược liệu bền vững: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cùng Ủy ban nhân dân các xã vùng đệm xây dựng đề án nhân giống 35 loài cây thuốc (như Ngũ chảo, Bạch đồng nữ, Tử châu) và 22 loài cho tinh dầu, mục tiêu nâng cao thu nhập bình quân từ lâm sản ngoài gỗ thêm 15-20% cho 560 hộ dân đang sinh sống trong vùng lõi đến năm 2025.

  3. Số hóa cơ sở dữ liệu và vận hành hệ thống giám sát đa dạng sinh học: Bộ môn Sinh học - Trường Đại học Hồng Đức phối hợp với ban quản lý vườn xây dựng hệ thống bản đồ số GIS định vị 54 loài họ Cỏ roi ngựa trên 7 tuyến điều tra, duy trì tần suất tuần tra đánh giá diễn thế quần thể 6 tháng một lần giai đoạn 2023-2025.

  4. Tăng cường tuyên truyền và giáo dục môi trường cho cộng đồng bản địa: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thanh Hóa chủ trì các chiến dịch truyền thông bảo tồn đa dạng sinh học bằng tiếng phổ thông và tiếng dân tộc cho 56.369 cư dân thuộc các dân tộc Kinh, Mường, Thái, Thổ, phấn đấu đạt trên 90% hộ gia đình ký cam kết bảo vệ tài nguyên rừng giai đoạn 2022-2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Cung cấp tài liệu tra cứu trực tiếp về danh lục 54 loài, phương pháp bố trí 7 tuyến khảo sát và các giải pháp phân khu chức năng bảo vệ nguồn gen thực vật nguy cấp.

  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Thực vật học và Lâm nghiệp: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp phân tích taxon, ứng dụng phổ dạng sống Raunkiær và phân tích yếu tố địa lý thực vật theo các tiêu chuẩn phân loại quốc tế.

  3. Nhà nghiên cứu dược liệu và doanh nghiệp phát triển tinh dầu thiên nhiên: Khai thác kho dữ liệu về 35 loài cây làm thuốc chữa bệnh ngoài da, xương khớp, viêm gan và 22 loài cho tinh dầu có giá trị thương mại hóa cao.

  4. Cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và tài nguyên môi trường: Cung cấp căn cứ khoa học vững chắc để xây dựng các chính sách quản lý rừng đặc dụng, quy hoạch phát triển kinh tế vùng đệm và bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao họ Cỏ roi ngựa tại Vườn quốc gia Bến En lại có độ đa dạng loài cao hơn nhiều khu bảo tồn lớn hơn? Nhờ cấu trúc địa hình karst đá vôi xen kẽ đất feralit phát triển trên đá sét cùng hệ thống hồ Sông Mực 2.000 ha, Bến En tạo ra các tiểu vùng khí hậu phong phú giúp 54 loài thuộc 15 chi phát triển, đạt mật độ loài trên diện tích vượt trội so với các vùng lân cận.

  2. Tỷ lệ các loài đặc hữu Việt Nam trong họ Cỏ roi ngựa tại Bến En đạt mức độ nào? Nghiên cứu ghi nhận 11 loài đặc hữu Việt Nam (chiếm 20,37% tổng số loài khảo sát), tiêu biểu như Tu hú petelot, Bội tinh tím, Tử châu lông dị hình và Cách balansa, chứng minh tính độc đáo và giá trị bảo tồn nguồn gen quốc gia của khu vực.

  3. Dạng sống nào của họ Cỏ roi ngựa chiếm ưu thế tại Vườn quốc gia Bến En và ý nghĩa sinh thái của nó là gì? Nhóm cây chồi trên lùn dạng cây bụi chiếm ưu thế lớn nhất với 26 loài (48,15%), tiếp theo là cây gỗ nhỏ (22,22%). Tỷ lệ này phản ánh khả năng thích nghi cao của thực vật trong thảm rừng phục hồi và chịu tác động nhân sinh.

  4. Các loài họ Cỏ roi ngựa tại Bến En mang lại những giá trị sử dụng chính nào trong y học cổ truyền? Có 35 loài được ghi nhận làm thuốc (chiếm 64,81%), chuyên dùng điều trị các bệnh viêm gan, bệnh xương khớp, mụn nhọt, bệnh tiêu hóa và các chứng lở ngứa ngoài da, điển hình như Nàng nàng, Xích đồng nam, Bạch đồng nữ và Ngũ chảo.

  5. Phương pháp nào được tác giả sử dụng để đảm bảo độ tin cậy khi giám định tên khoa học của 106 mẫu thực vật? Tác giả áp dụng phương pháp hình thái so sánh dựa trên các bộ Thực vật chí chuẩn hóa, kết hợp so sánh với bộ mẫu tiêu bản tại bảo tàng và tham vấn trực tiếp các chuyên gia phân loại thực vật hàng đầu từ Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.

Kết luận

  • Hệ thực vật họ Cỏ roi ngựa tại Vườn quốc gia Bến En phong phú với 54 loài và dưới loài thuộc 15 chi, chiếm 57,69% tổng số chi toàn quốc.
  • Công trình đã bổ sung thành công 22 loài và 4 chi mới vào danh lục thực vật Vườn quốc gia Bến En so với các công bố trước đó.
  • Phổ dạng sống được xác lập mang tính thích nghi cao với ưu thế thuộc về cây chồi trên lùn (48,15%) và cây gỗ nhỏ (22,22%).
  • Nghiên cứu định danh 11 loài đặc hữu Việt Nam (chiếm 20,37%) và 45 loài có giá trị kinh tế - y học (chiếm 83,33%), mở ra tiềm năng lớn về dược liệu và tinh dầu.
  • Đề tài đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho ngành thực vật học Việt Nam, định hướng lộ trình bảo tồn và phát triển sinh kế cộng đồng giai đoạn 2022-2026.

Để khai thác chi tiết bản mô tả hình thái và phân bố cụ thể của từng loài, độc giả có thể tham khảo toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Hồng Đức hoặc liên hệ ban quản lý vườn quốc gia để phối hợp nghiên cứu chuyên sâu.