mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Các nhà sinh vật học Nga tập trung nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Năm 1990, WWF đã xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity). Năm 1991, Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn “Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới” (Conserving the World’ biological diversity).
Năm 1992 – 1995, WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới, đó là cuốn “Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu” (Global biodiversity assessment). Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai. Bên cạnh đó, hàng ngàn tác phẩm, những công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng ngàn cuộc hội thảo được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phương pháp luận và thông báo các kết quả đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới. Ở Việt Nam Ngay từ đầu thế kỷ 18, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật, trước hết phải kể đến các công trình “Thực vật chí Nam bộ” của Loureiro (1970).
Sang thế kỷ 19 có công trình “Thực vật chí rừng Nam bộ” của tác giả Pierre (1879 – 1907) và cho đến những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một số công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” do Lecomte chủ biên (1907 – 1952). Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu thập mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, con số kiểm kê và được đưa ra là 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch. Đây là bộ sách có ý nghĩa lớn đối với các nhà thực vật học, hiện nay bộ sách này vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng. Tiếp theo phải kể đến là bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam” do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 – 2001) cùng với nhiều tác giả khác.
Đến nay đã công bố 31 tập nhỏ gồm 75 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 21% tổng số họ đã có. Tuy nhiên con số này còn ít so với số loài thực vật có ở 3 nước Đông Dương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Sau này, Pocs T. (1965) tuy không nghiên cứu về hệ thực vật miền Bắc, nhưng dựa trên bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” đã thống kê 5.190 loài, đồng thời tác giả còn phân tích cấu trúc hệ thống cũng như dạng sống và các yếu tố địa lý của hệ thực vật này.
trong công trình nghiên cứu về ngành rêu (Bryophyta) đã công bố 556 loài rêu ở Việt Nam, trong đó miền Bắc có 198 loài. Đây là công trình khá tổng quát công bố về ngành rêu ở Việt Nam. Như vậy, từ đầu thế kỷ 19 đến khoảng giữa thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về hệ thực vật có giá trị ở Việt Nam chủ yếu do các tác giả nước ngoài nghiên cứu. Các công trình mới chỉ dừng lại ở mức thống kê số lượng loài có trong một vùng diện tích lớn như miền Bắc Việt Nam (198.000km2), Việt Nam có diện tích trên 330.
Trên cơ sở bộ “Thực vật chí Đông Dương”, Thái Văn Trừng (1978, tái bản năm 2000) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.850 chi và 289 họ. Trong đó, ngành Hạt kín có 3. Ngành Dương xỉ và họ hàng Dương xỉ có 599 loài (chiếm 8,6%), 205 chi (chiếm 5,57%) và 42 họ (chiếm 14,5%). Ngành Hạt trần có 39 loài (chiếm 0,5%), 18 chi (chiếm 0,9%) và 8 họ (chiếm 2,8%).
Gần đây, đáng chú ý phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 – 2000); hay bộ sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam” (2001 – 2005). Đây là những bộ sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam. Cùng với những công trình nghiên cứu ở miền Bắc, trong thời gian này, công trình nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” của Trần Ngũ Phương đã tiến hành phân loại rừng miền Bắc Việt Nam. Trong đó, rừng miền Bắc được chia làm 3 đai, 8 kiểu; ngoài ra tác giả còn chia ra thành nhiều kiểu rừng phụ mà chỉ dùng loại hình thay cho kiểu, sau loại hình kiểu phụ.
Bên cạnh đó, có một số họ riêng biệt đã được công bố như họ Lan Đông Dương (Orchidaceae) của Seidenfaden (1992), họ Lan (Orchidaceae) Việt Nam của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Averyanov (1994), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), họ Na (Annonaceae) Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000), họ Bạc hà (Lamiaceae) của Vũ Xuân Phương (2000), họ Đơn nem (Myrsinaceae) của Trần Thị Kim Liên (2002), họ Trúc đào (Apocynaceae) của Trần Đình Lý (2007), … Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam. Để phục vụ công tác khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thực vật, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã công bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971- 1988) giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh họa, đến năm 1996 công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng làm chủ biên. Bên cạnh những công trình mang tính chất chung cho cả nước, có nhiều nghiên cứu khu hệ thực vật từng vùng dưới dạng danh lục được công bố chính thức như “Hệ thực vật Tây Nguyên” đã công bố 3.754 loài thực vật có mạch của Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984), “Danh lục thực vật Phú Quốc” của Phạm Hoàng Hộ (1985) đã công bố 793 loài thực vật có mạch trong diện tích 592 km2, Lê Trần Chấn và cộng sự (1990) về thực vật Lâm Sơn – Lương Sơn – Hòa Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2024 loài thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa – Phanxipang, hay một loạt các báo cáo công bố về đa dạng thành phần loài ở các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên như vùng núi đá vôi Sơn La, vùng ven biển Nam Trung Bộ, VQG Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Phong Nha – Kẻ Bàng, … do nhiều tác giả công bố trong những năm gần đây.
Nghiên cứu thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên Các công trình nghiên cứu về thảm thực vật tại KBTTN Xuân Liên là rất ít. Năm 1998, Viê ̣n Điề u tra Quy hoa ̣ch Rừng (ĐTQHR) và Chương triǹ h BirdLife ̉ h Thanh Hóa đã tiế n hành Quốc tế ta ̣i Việt Nam hợp tác với Chi cu ̣c Kiể m lâm tin xây dựng nghiên cứu khả thi thành lập KBTTN Xuân Liên (Lê Tro ̣ng Trải et al. Dựa trên cơ sở những nguyên tắc sinh thái của Thái Văn Trừng nhóm điều tra đã đưa ra kết luận Thảm thực vật rừng tại Xuân Liên có các kiểu sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Rừng lá kim hỗn giao và rừng lá rô ̣ng thường xanh trên núi thấ p chiế m khoảng 18% tổng diê ̣n tích khu đề xuất bảo tồ n thiên nhiên ở các đai cao trên 800 m. Kiể u rừng này ưu thế bởi các loài cây gỗ lá rô ̣ng của các ho ̣ Dẻ (Fagaceae), Long naõ (Lauraceae) và Dầ u (Dipterocarpaceae), ngoài ra mô ̣t số loài ha ̣t trầ n như Thông nàng (Podocarpus imbricatus), Sa mu (Cunninghamia konishii) và Pơ mu Fokienia hodginsii cũng xuấ t hiê ̣n rải rác trên các đai cao trên 1000m trong kiể u rừng này.
Trên một vài dãy núi nổ i lên đến đô ̣ cao hơn 1.400 m, xuấ t hiê ̣n kiể u rừng lùn. - Kiể u rừng chiń h thứ hai là rừng thường xanh trên đấ t thấ p xuấ t hiê ̣n ở đô ̣ cao dưới 800 m. Kiểu rừng này đã bị chă ̣t phá và suy thoái nghiêm tro ̣ng và chỉ chiế m 3% tổ ng diê ̣n tích tự nhiên của vùng. - Các kiể u rừng thứ sinh có rừng hỗn giao tre nứa, cây gỗ và rừng thường xanh phục hồi, cả hai đề u là da ̣ng thảm thực vâ ̣t thứ sinh phát triể n từ rừng sau khai thác hoặc sau nương rẫy.
- Các kiể u thảm thực vâ ̣t còn la ̣i là rừng tre nứa thuầ n loa ̣i, trảng cỏ và trảng cây bu ̣i (Lê Tro ̣ng Trải et al. Tháng 11 năm 1998, BirdLife và Viện ĐTQHR đã tiế n hành điề u tra thực điạ tại Khu đề xuất bảo tồ n thiên nhiên Xuân Liên. Trong chuyế n điề u tra này, 752 loài thực vâ ̣t bâ ̣c cao có ma ̣ch đã đươ ̣c ghi nhâ ̣n (trong đó có 320 loài cây thân gỗ). Hệ thực vật ở khu vực Xuân Liên đặc trưng bởi các taxon bản địa Bắ c Viê ̣t Nam và Nam Trung Quốc.
Hai yế u tố điạ lý thực vật chiń h của khu hê ̣ thực vâ ̣t ở đây là Ấn Độ - Malayan và Trung Quốc - Himalayan với những đa ̣i diê ̣n đă ̣c trưng của thực vật của tỉnh Vân Nam (Trung Quố c) và chân núi Himalaya, bao gồ m mô ̣t số loài ha ̣t trầ n và cây gỗ rụng lá. (Lê Trọng Trải et al. Năm 2008, Bộ tài nguyên môi trường - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật tổng hợp thông tin ĐDSH khu bảo tồn gồm 65 loài thú, 215 loài chim, 88 loài bò sát ếch nhái, 6 loài côn trùng, 61 loài động vật thuỷ sinh và cá. `Công tác nghiên cứu thực vật luôn là mục tiêu hàng đầu trong công tác bảo tồn thiên nhiên, tuy nhiên kết quả chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.
Hoạt động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.