ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 1992 tại Rio de Janairo Liên hợp quốc tổ chức hội thảo về môi trƣờng và phát triển, đây đƣợc coi là “Cuộc họp thƣợng đỉnh của trái đất”, đã công bố Công ƣớc đa dạng sinh học (ĐDSH). Hơn 160 nƣớc đã ký vào công ƣớc nhận trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng tài nguyên sinh học một cách bền vững và cùng chia sẻ công bằng lợi ích thu đƣợc từ đó. Thực vật rừng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý gía của mỗi quốc gia. Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có một hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng.
Nghiên cứu về hệ thực vật rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu cho công tác nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học. Việc nghiên cứu về hệ thực vật giúp chúng ta hiểu rõ về thành phần, tính chất các hệ thực vật ở từng nơi, nhằm xây dựng mô hình về quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật. Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hữu Liên là khu rừng đặc dụng duy nhất của tỉnh Lạng Sơn, đã đƣợc đƣa vào danh lục hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam theo Quyết định số 194/CT ngày 09/08/1986 của Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Chính phủ). Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên là khu vực có các hệ sinh thái rừng tự nhiên mang tính điển hình của vùng núi phía Bắc nƣớc ta với hai kiểu rừng là rừng núi đất và rừng núi đá.
Trong đó, diện tích rừng trên núi đá vôi chiếm trên 90% diện tích của cả Khu bảo tồn, còn lại khoảng 10% là rừng thƣờng xanh trên núi đất. Trong giai đoạn đầu từ khi thành lập do chƣa ổn định về tổ chức, nguồn nhân lực thiếu thốn, kinh phí đầu tƣ không có nên các hoạt động điều tra, đánh giá đa dạng sinh học và bảo tồn còn nhiều hạn chế. Công tác lƣu trữ mẫu vật, tài liệu vì thế cũng chƣa đƣợc quan tâm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Cũng nhƣ các khu rừng đặc dụng khác Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên cũng thƣờng xuyên phải đối diện với các hành vi xâm lấn đất để canh tác nƣơng rẫy; khai thác lâm sản trái phép, đặc biệt là các loài quý hiếm nhƣ: Hoàng đàn, Nghiến, Trai lý.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do địa hình rừng núi sâu, xa; điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; nhận thức về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên còn hạn chế; nghèo đói, phong tục tập quán lạc hậu đã dẫn đến một bộ phận không nhỏ ngƣời dân địa phƣơng vào rừng để mƣu sinh và đang đe dọa trực tiếp đến nguồn tài nguyên thực vật rừng trong khu vực. Để có cơ sở khoa học cho việc bảo tồn có hiệu quả, cần thiết phải điều tra, thu thập, thống kê và phát hiện đƣợc hết thảy các loài thực vật hiện có. Là cán bộ hiện đang công tác tại Khu bảo tồn, bản thân tôi luôn tâm huyết với nghề nghiệp do đó tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng của hệ thực vật bậc cao có mạch tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên, tỉnh Lạng Sơn” làm luận văn thạc sĩ. Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn: - Cung cấp bổ sung, cập nhật dữ liệu về tính đa dạng của hệ thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên; - Đề xuất giải pháp cho quản lý bảo tồn đa dạng thực vật đặc biệt là một số loài nguy cấp ở Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu trên thế giới Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung cũng nhƣ bảo tồn tài nguyên thực vật nói riêng hiện nay đã trở thành một chiến lƣợc quan trọng hàng đầu trên thế giới. Đã có nhiều tổ chức đƣợc thành lập để triển khai thực hiện, cũng nhƣ giúp đỡ việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trên thế giới. Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chƣơng trình môi trƣờng liên hợp quốc (UNEP), Viện tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI),… Từ Hội nghị thƣợng đỉnh bàn về môi trƣờng và đa dạng sinh vật đã đƣợc tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992 và 150 quốc gia đã ký vào Công ƣớc về Đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng.
Năm 1990, Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) xuất bản sách về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật; IUCN, UNEF và WWF xuất bản cuốn Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới; IUCN và UNEP xuất bản sách Chiến lƣợc đa dạng sinh vật và chƣơng trình hành động;. Tất cả các công trình đó nhằm hƣớng dẫn và đề xuất phƣơng pháp để bảo tồn đa dạng sinh vật, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tƣơng lai đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu, cung cấp tƣ liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau, ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới làm cơ sở cho việc bảo tồn có hiệu quả. Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 loài quyết thực vật; 14.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới những công trình có giá trị nhƣ: Thực vật chí Hồng Kông 1861; Thực vật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 chí vùng tây bắc và trung tâm Ấn độ, 1784; Thực vật chí Ấn Độ, gồm 7 tập (1872-1897); Thực vật chí Miến Điện, 1877; Thực vật chí Malaisia, 1892- 1925; Thực vật chí Hải Nam, 1972-1977; Thực vật chí Vân Nam, 1977.
Đối với các nƣớc Âu, Mỹ hầu hết các vật mẫu đã đƣợc thu thập và lƣu trữ tại các phòng mẫu khô (herbarium) nổi tiếng thế giới nhƣ Kew (Anh quốc), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga). Đối với các nƣớc khu vực Đông Nam Á đã có bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh nhƣ Trung Hoa, Thái Lan, Indonexia, Malaysia. Nghiên cứu ở Việt Nam 1. Nghiên cứu hệ thực vật “Hệ thực vật là tập hợp các loại thực vật sống trong cùng một vùng hoặc một giai đoạn nhất định, thƣờng là chúng xuất hiện tự nhiên hay các loài thực vật bản địa”.
“Thực vật bậc cao có mạch là các nhóm thực vật có mô hóa gỗ để truyền dẫn nƣớc, khoáng chất và các sản phẩm quang hợp trong cơ thể”. (nguồn Bách khoa toàn thư - Wikipedia) Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có hệ thực vật phong phú và đa dạng là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật có tính đa dạng sinh học cao của thế giới có nhiều giống loài đặc hữu, nguồn gen quý hiếm có giá trị cao về kinh tế, khoa học. Theo các tài liệu công bố Việt Nam có khoảng 17000 loài thực vật, trong đó: Ngành Tảo có 2200 loài; ngành Rêu 480 loài; ngành Khuyết lá Thông 1 loài; ngành Thông đất 55 loài; ngành Cỏ tháp bút 2 loài; ngành Dƣơng xỉ 700 loài; ngành Hạt trần 70 loài và ngành Hạt kín 13000 loài. Việc nghiên cứu, điều tra, đánh giá về đa dạng thực vật ở Việt Nam đƣợc tiến hành từ thế kỷ XVIII cho tới nay.
Nhƣng các công trình mới chỉ đƣợc công bố nhiều ở khoảng 50 năm trở lại đây. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Thế kỷ XVIII Việt Nam đã có công trình nghiên cứu về thực vật của nhà thực vật học ngƣời Pháp J. Tiếp đến là tác giả J. Đến thế kỷ XIX có công trình “Thực vật chí rừng Nam bộ” của tác giả Pierre L.
(1879 - 1907) và đến đầu thế kỷ XX bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương gồm 7 tập hơn 7000 loài do H. Lecomte (1907 - 1952) cùng các tác giả biên soạn. Đây là công trình có thể coi là nền tảng cho việc đánh giá đa dạng thực vật cho đến tận ngày nay. Từ năm 1960 đến nay, bộ sách này đã và đang đƣợc một số nhà thực vật Pháp và Việt Nam biên soạn lại dƣới tên Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam với 74 họ thực vật có mạch.
Trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XX nhiều các tác giả trong và ngoài nƣớc có các công trình nghiên cứu có giá trị đánh giá, điều tra đa dạng về thực vật Việt Nam. Phan Kế Lộc (1969) đã thống kê và có bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.660 chi và 140 họ. Thực vật chí đại cƣơng Đông dƣơng và các tập bổ sung tiếp theo đã ghi nhận và mô tả có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch. Thái Văn Trừng đã thống kê thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi, 289 họ.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11. Năm 1999 trong khi tổng kết các công trình về hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2. Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2. Lê Trần Chấn nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật.
Phạm Hoàng Hộ (1991-1992) trong công trình cây cỏ Việt Nam đã thống kê đƣợc số loài hiện có của hệ thực vật Việt Nam tới 10. Nguyễn Tiến Bân (2005) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam hiện biết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan với 10. Trần Đình Lý và cộng sự, (1993) 1900 cây có ích ở Việt Nam. Lê Khả Kế và cộng sự (1969-1976) công bố bộ Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam gồm 6 tập.
Viện điều tra quy hoạch rừng công bố Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam. Phạm Hoàng Hộ (1970-1972) nghiên cứu các loài thực vật ở miền Nam Việt Nam với 5326 loài [16]. Cũng tác giả này (1991-1993, 1999-2000) có công trình nghiên cứu thực vật cả nƣớc với thông tin số lƣợng loài khá đầy đủ phục vụ tốt việc nghiên cứu đa dạng thực vật Việt Nam cho đến tận ngày nay [17], [18]. Trong 2 số tạp chí chuyên đề của Tạp chí Sinh học (1994-1995) nhiều tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu thực vật các taxon với hàng trăm loài [29].