Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé được thành lập theo Quyết định số 593/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên với tổng diện tích tự nhiên 45.581 ha, trải rộng trên địa bàn 5 xã biên giới gồm Sín Thầu, Leng Su Sìn, Chung Chải, Mường Nhé và Nậm Kè. Trong đó, diện tích đất có rừng đạt 27.886 ha, chiếm khoảng 61% tổng diện tích tự nhiên của toàn khu bảo tồn. Về mặt phân khu chức năng, khu bảo tồn được chia thành phân khu bảo vệ nghiêm ngặt với 25.679,08 ha, phân khu phục hồi sinh thái chiếm 19.888,42 ha và phân khu hành chính dịch vụ quy hoạch 13,5 ha. Nơi đây sở hữu tính đa dạng sinh học cao, là vùng sinh thái đầu nguồn xung yếu của hệ thống sông Đà, điều tiết nguồn nước cho các công trình thủy điện trọng điểm quốc gia như Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình.

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên thực vật thân gỗ tại đây đang đứng trước sức ép suy thoái nghiêm trọng do tập quán canh tác nương rẫy, tình trạng lấn chiếm đất rừng và việc khai thác lâm sản quá mức từ cộng đồng dân cư bản địa với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 74,02% (tương đương 5.795 hộ). Đứng trước thực trạng đó, luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp của tác giả Bùi Viết Truy đã được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá toàn diện tính đa dạng thực vật thân gỗ, làm rõ đặc điểm cấu trúc lâm phần và tình hình phân bố của các loài cây gỗ quý hiếm tại khu vực. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập hệ thống dữ liệu nền tảng gồm 433 loài cây gỗ, tạo luận cứ khoa học vững chắc để các nhà quản lý xây dựng chiến lược bảo tồn nguồn gen nguy cấp và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng Tây Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học quần xã và các nguyên lý bảo tồn sinh học hiện đại. Luận văn vận dụng đồng bộ hai chiến lược bảo tồn cốt lõi theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và UNESCO, bao gồm bảo tồn nguyên vị (in-situ) tại sinh cảnh tự nhiên và bảo tồn chuyển vị (ex-situ) thông qua các vườn thực vật và ngân hàng gen. Khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978) được sử dụng để xác định các kiểu rừng chính, kết hợp với hệ thống phân chia 5 nhóm dạng sống chồi của Raunkiaer (1934) nhằm đánh giá bản chất thích nghi sinh thái của hệ thực vật.

Các khái niệm then chốt trong nghiên cứu bao gồm: chỉ số giá trị quan trọng (Important Value Index - IV%) phản ánh vai trò sinh thái của từng loài cây gỗ trong quần xã; cấu trúc mật độ theo đường kính (N/D1.3) và chiều cao (N/Hvn); phổ dạng sống và phân loại 13 nhóm công dụng tài nguyên thực vật (cho gỗ, cây thuốc, tinh dầu, dầu béo, cây cảnh...). Hệ thống lý thuyết này tạo nên khung phân tích đa chiều, kết nối chặt chẽ giữa cấu trúc hình thái, chức năng sinh thái và giá trị sử dụng của hệ thực vật thân gỗ nhiệt đới núi cao.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp hài hòa giữa phương pháp kế thừa tài liệu, khảo sát thực địa lâm học và đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA). Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả thiết lập 4 tuyến khảo sát thực địa với tổng chiều dài 36,7 km (tuyến 1 dài 9,7 km; tuyến 2 dài 9,3 km; tuyến 3 dài 8,9 km; tuyến 4 dài 8,8 km) đi qua các đai độ cao và sinh cảnh đặc trưng tại 2 xã trọng điểm là Nậm Kè và Mường Nhé.

Về quy mô mẫu lâm học, nghiên cứu thiết lập 20 ô tiêu chuẩn điển hình (OTC) với kích thước 20m x 50m (diện tích 1.000 m2/ô, tổng diện tích mẫu đạt 20.000 m2). Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất cho các trạng thái rừng tự nhiên. Trong mỗi ô tiêu chuẩn, tác giả bố trí 5 ô dạng bản (ODB) kích thước 5m x 5m (diện tích 25 m2/ô, tổng cộng 100 ODB) để đo đếm tầng cây tái sinh. Cây thân gỗ có đường kính ngang ngực từ 6 cm trở lên được đo đếm đầy đủ các chỉ tiêu hình thái và vị trí tọa độ GPS.

Về phương pháp phân tích, dữ liệu thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 13.0 để mô hình hóa quy luật phân bố số cây theo đường kính và chiều cao thông qua các hàm lý thuyết: hàm Weibull, hàm phân bố giảm và hàm khoảng cách. Việc lựa chọn các hàm phân bố này cùng kiểm định Chi bình phương (Chi-square test) giúp đánh giá chính xác mức độ phù hợp giữa cấu trúc thực tế và mô hình toán học, từ đó dự báo quy luật sinh trưởng, diễn thế và khả năng phục hồi của quần xã rừng. Song song đó, điều tra xã hội học PRA được tiến hành qua phỏng vấn bán cấu trúc 60 người dân tại 6 bản thuộc 2 xã nghiên cứu (10 người/bản) để làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa sinh kế cộng đồng và tài nguyên rừng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa đã ghi nhận và lập danh lục cho 433 loài thực vật thân gỗ thuộc 306 chi, 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé. Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế áp đảo với 424 loài (chiếm 97,92% tổng số loài) và 298 chi (chiếm 97,38% tổng số chi). Ngành Hạt trần (Pinophyta) ghi nhận 7 loài (chiếm 1,62% tổng số loài) và ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 2 loài thân gỗ (chiếm 0,46%). Hệ thực vật mang tính đa dạng cao với sự góp mặt của các họ giàu loài nhất như họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cà phê (Rubiaceae) và họ Đậu (Fabaceae).

Nghiên cứu đã xác định được 29 loài cây gỗ quý hiếm được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ IUCN. Trong đó, có 4 loài thuộc cấp Rất nguy cấp (CR), 7 loài thuộc cấp Nguy cấp (EN), 9 loài thuộc cấp Sẽ nguy cấp (VU) và 9 loài thuộc các nhóm bị đe dọa khác. Điển hình là loài Pơ mu (Fokienia hodginsii) phân bố đặc hữu ở đai cao từ 900m trở lên tại khu vực đỉnh núi Phu Huổi Luông, cùng các loài cây có giá trị kinh tế và bảo tồn rất cao như Trầm hương (Aquilaria crassna), Chò chỉ (Parashorea chinensis), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Giổi thơm (Talauma gioi) và Chò nâu (Dipterocarpus retusus).

Về mặt cấu trúc lâm phần, phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1.3) và chiều cao (N/Hvn) trong 20 ô tiêu chuẩn đều tuân theo quy luật giảm hình chữ J ngược, được mô phỏng phù hợp nhất qua hàm phân bố giảm và hàm Weibull với mức ý nghĩa thống kê cao. Mật độ tầng cây tái sinh triển vọng dao động từ 1.200 đến 2.500 cây/ha, tuy nhiên nguồn gốc tái sinh chủ yếu là chồi sau khai thác, khả năng tái sinh bằng hạt của các loài cây gỗ lớn bản địa còn gặp nhiều hạn chế.

Thảo luận kết quả

Thành phần loài thực vật thân gỗ tại Mường Nhé phản ánh rõ nét tính chất giao thoa sinh thái độc đáo giữa luồng thực vật nhiệt đới bản địa miền Bắc Việt Nam với luồng thực vật di cư á nhiệt đới từ vùng Hymalaya và Hoa Nam. Sự hiện diện của các họ ôn đới và á nhiệt đới như Re, Dẻ, Chè, Ngọc lan phân bố ở các đai núi cao trên 800m tạo nên những dải thảm thực vật thường xanh á nhiệt đới đặc thù.

Khi thảo luận kết quả cấu trúc rừng, toàn bộ dữ liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đường kính và chiều cao (H/D) cùng tần số xuất hiện của các loài được trực quan hóa hiệu quả thông qua hệ thống biểu đồ đường cong hồi quy và bảng ma trận chỉ số giá trị quan trọng (IV%). Kết quả chỉ ra rằng các loài ưu thế sinh thái thuộc họ Dẻ và họ Re chiếm giữ tầng tán chính của rừng kín thường xanh mưa ẩm, đóng vai trò định hình vi khí hậu và bảo vệ đất.

So sánh với các khu bảo tồn lân cận trong khu vực Tây Bắc như Hoàng Liên hay Bát Xát, Mường Nhé vẫn lưu giữ được diện tích rừng tự nhiên tương đối liền khoảnh nhưng mức độ chia cắt cục bộ đang gia tăng. Nguyên nhân chính là do toàn huyện còn tới 80.685 ha đất trống đồi núi trọc và 10.182 ha đất nương rẫy luân canh. Thêm vào đó, việc chăn thả tự do 28.781 con gia súc (gồm 7.980 con trâu và hàng nghìn con bò, dê) đã dẫm đạp làm gãy đổ cây con, cản trở nghiêm trọng quá trình phục hồi tự nhiên của thảm thực vật rừng sau nương rẫy.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phân tích khoa học về hiện trạng và nguyên nhân suy giảm tài nguyên, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát triển bền vững rừng thân gỗ tại Mường Nhé:

Thứ nhất, tăng cường công tác quản lý và cắm mốc bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi. Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé cần chủ trì phối hợp với lực lượng Kiểm lâm hoàn thành cắm mốc ranh giới cho 25.679,08 ha thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Mục tiêu cụ thể là thiết lập các trạm chốt kiểm soát lưu động tại các tiểu khu 159, 162, 173 và 178; bảo vệ nguyên vẹn 100% diện tích phân bố tự nhiên của quần thể cây Pơ mu tại đai cao trên 900m thuộc đỉnh Phu Huổi Luông trong giai đoạn 2017-2020.

Thứ hai, thực thi chính sách giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ủy ban nhân dân huyện Mường Nhé cần đẩy nhanh tiến độ chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho 5.795 hộ nghèo tại 11 xã vùng đệm, nâng mức thu nhập từ nghề rừng từ 3,5% hiện nay lên đạt tối thiểu 15% tổng thu nhập hộ gia đình vào năm 2022. Hỗ trợ người dân chuyển đổi tập quán chăn thả rông gia súc sang nuôi nhốt có kiểm soát nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến 38.644 ha rừng phục hồi.

Thứ ba, triển khai các biện pháp lâm sinh khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp làm giàu rừng. Ban Quản lý Khu bảo tồn cần phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Điện Biên ứng dụng kỹ thuật gieo ươm và trồng bổ sung các loài cây bản địa quý hiếm như Lát hoa, Chò chỉ, Giổi thơm trên diện tích 19.888,42 ha thuộc phân khu phục hồi sinh thái, đặt mục tiêu tăng tỷ lệ tán che rừng thêm 2-3% mỗi năm.

Thứ tư, xây dựng hệ thống bảo tồn chuyển vị và tăng cường nghiên cứu khoa học. Ban Quản lý Khu bảo tồn phối hợp với Trường Đại học Lâm nghiệp quy hoạch 13,5 ha tại phân khu hành chính dịch vụ để xây dựng vườn thực vật mẫu và vườn sưu tập cây gỗ bản địa quý hiếm. Hoạt động này nhằm lưu giữ nguồn gen ex-situ cho ít nhất 50 loài cây nguy cấp, phục vụ công tác giáo dục môi trường và chuyển giao kỹ thuật nhân giống trong giai đoạn 2018-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu này là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Nhóm thứ nhất là các nhà quản lý lâm nghiệp, Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia trên toàn quốc. Luận văn cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về quy trình điều tra, thiết lập ô tiêu chuẩn và xây dựng phương án quản lý rừng đặc dụng vùng núi cao với quy mô hơn 45.000 ha.

Nhóm thứ hai là các giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sinh và Đa dạng sinh học. Đây là tài liệu tham khảo tiêu biểu về ứng dụng mô hình toán học SPSS để phân tích hàm phân bố Weibull, chỉ số IV% và phổ dạng sống Raunkiaer trong nghiên cứu lâm học nhiệt đới.

Nhóm thứ ba là Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế - xã hội tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Công trình cung cấp bức tranh thực tế về mối xung đột giữa an sinh xã hội của 7.889 người dân bản địa với công tác bảo vệ 84.000 ha đất có rừng, làm cơ sở ban hành các chính sách xóa đói giảm nghèo bền vững.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và các quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế như WWF, IUCN hay Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF). Luận văn mang lại cơ sở dữ liệu thực địa tin cậy về 29 loài thực vật nguy cấp để xây dựng các đề xuất dự án tài trợ bảo tồn nguồn gen quý hiếm và hỗ trợ phát triển sinh kế cộng đồng vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã thống kê được bao nhiêu loài thực vật thân gỗ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé?

Nghiên cứu đã thống kê chính xác 433 loài thực vật thân gỗ thuộc 306 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Ngọc lan chiếm tỷ trọng vượt trội với 424 loài, tương đương 97,92% tổng số loài được ghi nhận trong khu vực khảo sát.

Có bao nhiêu loài cây gỗ quý hiếm được ghi nhận và phân bố của chúng ra sao?

Nghiên cứu đã ghi nhận 29 loài cây gỗ quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007. Trong đó, loài Pơ mu phân bố tập trung ở đai cao từ 900m trở lên quanh đỉnh núi Phu Huổi Luông, còn các loài như Chò chỉ, Giổi thơm, Lát hoa phân bố rải rác ở đai độ cao từ 600m đến 1.700m.

Cấu trúc mật độ tầng cây gỗ tại Mường Nhé tuân theo quy luật phân bố nào?

Cấu trúc phân bố số cây theo đường kính và chiều cao trong 20 ô tiêu chuẩn tuân theo quy luật giảm hình chữ J ngược, được mô phỏng phù hợp nhất bằng hàm phân bố giảm và hàm Weibull qua kiểm định Chi bình phương. Điều này chứng minh quần xã rừng có tính chất tự nhiên và khả năng tái sinh liên tục.

Dung lượng mẫu điều tra thực địa của luận văn được thực hiện như thế nào?

Tác giả đã triển khai khảo sát trên 4 tuyến điều tra có tổng chiều dài 36,7 km, thiết lập 20 ô tiêu chuẩn diện tích 1.000 m2 mỗi ô, bố trí 100 ô dạng bản đo tái sinh và phỏng vấn cấu trúc PRA đối với 60 người dân bản địa tại 2 xã trọng điểm Nậm Kè và Mường Nhé.

Đâu là rào cản lớn nhất đối với công tác bảo tồn đa dạng thực vật tại khu vực?

Rào cản lớn nhất bắt nguồn từ áp lực kinh tế của 74,02% hộ nghèo địa phương, tập quán du canh trên 10.182 ha đất nương rẫy luân canh và hoạt động thả rông 28.781 con gia súc trong rừng, gây tổn hại trực tiếp đến thảm thực vật và nguồn tài nguyên gỗ quý hiếm.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng hoàn chỉnh danh lục 433 loài thực vật thân gỗ thuộc 306 chi, 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, khẳng định vị thế đa dạng sinh học hàng đầu của khu vực Tây Bắc.
  • Phát hiện và định vị tọa độ phân bố của 29 loài cây gỗ quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, đặc biệt chỉ rõ ranh giới phân bố của loài Pơ mu tại đai cao trên 900m ở sườn núi Phu Huổi Luông.
  • Chứng minh quy luật cấu trúc lâm phần qua 20 ô tiêu chuẩn và 100 ô dạng bản tuân theo hàm phân bố Weibull và hàm giảm, làm rõ vai trò lập quần của các họ ưu thế như Fagaceae và Lauraceae.
  • Phân tích sâu sắc các mối đe dọa từ tập quán nương rẫy, chăn thả hơn 28.780 con gia súc và tình trạng nghèo đói của 74,02% dân số vùng đệm đối với tính toàn vẹn của 45.581 ha đất rừng bảo tồn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện kết hợp bảo vệ nguyên vị, chi trả dịch vụ môi trường rừng, xúc tiến tái sinh tự nhiên và quy hoạch vườn thực vật mẫu 13,5 ha.

Kế hoạch hành động trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung vào việc thiết lập các ô định vị theo dõi động thái rừng lâu dài và triển khai nhân giống bản địa các loài cây nguy cấp. Các cơ quan nghiên cứu, ban quản lý rừng và tổ chức phát triển quan tâm đến bảo tồn nguồn gen thực vật Tây Bắc có thể liên hệ trực tiếp với tác giả hoặc Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé để ứng dụng kết quả nghiên cứu vào các chương trình lâm nghiệp thực tiễn.