Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm chung về đa dạng sinh học Thuật ngữ “Đa dạng sinh học” lần đầu tiên được Norse and McManus (1980) định nghĩa, bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Cho đến nay, có ít nhất 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ “Đa dạng sinh học” - “biodiversity, biological diversity”, song khái niệm được dùng chung nhất được nêu trong Công ước về Đa dạng sinh học như sau: “Là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thủy vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần,.; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái”.vn/VN/quanlymt/baotondadangsh]. Như vậy, khi nói đến độ phong phú của hệ thực vật và hệ động vật tức là chúng ta đã đề cập đến “Đa dạng sinh học”.
Các dạng của đa dạng sinh học bao gồm: đa dạng di truyền, đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái và đa dạng văn hóa. Nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới - Nghiên cứu về thực vật và thảm thực vật đã có từ lâu. Song, các nghiên cứu quan trọng tập trung nhiều ở thế kỷ XIX - XX.
Tại Nga, các công trình nghiên cứu hệ thực vật cụ thể được tiến hành từ những năm 1928 - 1932. Các công trình nghiên cứu của các tác giả Tolmachop A. I (1969), Urxep (1974) đều tập trung vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu của hệ thực vật. c 4 - Việc phân loại các hệ sinh thái được dựa vào nhiều quan điểm khác nhau tùy theo từng mục đích của mỗi tác giả.
đã dựa vào cấu trúc và ngoại mạo để phân loại rừng. Cơ sở phân loại của quan điểm này là dựa vào đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác nhau của quần xã thực vật. - Các nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật phải kể đến hai công trình “Góp phần nghiên cứu địa lý thực vật Đông Dương” (1926) và “Giới thiệu hệ thực vật Đông Dương” của Gagnepain J. Tác giả xếp các loài của hệ thực vật Đông Dương thuộc 5 yếu tố địa lý khác nhau, cụ thể như sau: + Yếu tố Trung Quốc 33,8% + Yếu tố Xích Kim - Himalaya 18,5% + Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15,0% + Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9% + Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8% - Các nghiên cứu về dạng sống của thực vật trên thế giới được đề cập trong nhiều công trình.
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của Raunkiaer (1934) đã đưa ra phương pháp lập phổ dạng sống cho hệ thực vật hiện nay được sử dụng rộng rãi nhất. Khi phân biệt dạng sống của thực vật, trong hàng loạt dấu hiệu thích nghi Raunkiear chỉ chọn một dấu hiệu cho việc phân loại dạng sống của mình: Đó là vị trí của chồi so với mặt đất trong thời kỳ không thuận lợi của năm. Ông đã chia ra năm nhóm dạng sống cơ bản: Cây có chồi trên đất (Phanerophytes), cây có chồi sát đất (Chamaephytes), cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes), cây chồi ẩn (Cryptophytes), cây chồi 1 năm (Therophytes). Raunkiaer cũng đã lập phổ dạng sống tiêu chuẩn cho 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên trái đất dưới dạng: SN = 46 Ph + 9Ch + 26 H + 6Cr + 13Th.
c 5 Đây là cơ sở để so sánh phổ dạng sống của thảm thực vật ở các vùng khác nhau trên trái đất. Do đó, khi đã tổng hợp được khối lượng các kiểu dạng sống trong kiểu thảm thực vật, chúng ta có thể tính phần trăm của từng dạng sống trên phổ dạng sống của kiểu đó, tức SB để so sánh với SN. Thông thường, ở các vùng nhiệt đới, trong rừng ẩm thì Ph là 80%, Ch vào khoảng gần 20%, còn Hm, Cr và Th rất ít gần như không có. Trái lại trong vùng khô hạn thì Th và Cr có thể có tỉ lệ khá cao, còn Ph thì giảm xuống.
Tại Việt Nam Những nghiên cứu về tổ thành loài thực vật - Các công trình nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam, trước hết phải kể đến công trình của tác giả Loureiro (1790), Pierre (1879 - 1907) và một tác phẩm quan trọng là “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte et al (1905-1952) bao gồm 7 tập, trong đó thống kê và mô tả hơn 7.000 loài thực vật ở Đông Dương. - Tác giả Pocs Tamas (1965) đã thống kê được 5.190 loài thực vật ở miền Bắc Việt Nam và công bố loài của ngành rêu (Bryophyta) ở Việt Nam. - Tác giả Phạm Hoàng Hộ (1970 - 1972) trong tập “Cây cỏ Việt Nam” công bố 5.326 loài thực vật ở miền Nam Việt Nam. - Tác giả Thái Văn Trừng đã dựa trên “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte et al (1905-1952) đưa ra Hệ thực vật Việt Nam gồm 7.850 chi và 289 họ.
- Tác giả Phan Kế Lộc (1973) trong công trình “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam” đã công bố 5.609 loài thực vật có mạch có ở miền Bắc Việt Nam. c 6 - Năm 1984, các tác giả Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể nghiên cứu đã công bố “Danh lục thực vật Tây Nguyên” với 3.754 loài thực vật bậc cao có mạch được ghi nhận. - Tác giả Lê Trần Chấn (1990) đã công bố “Bản danh lục” gồm 1.261 loài thực vật bậc cao phân bố trên diện tích 15 km2 ở Lâm Sơn (Hà Sơn Bình). - Năm 1990, tác giả Nguyễn Tiến Bân đã công bố số liệu về thực vật hạt kín Việt Nam hiện biết là 8.
- Tác giả Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) ở 3 tập “Cây cỏ Việt Nam” đã công bố 10.484 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. - Viện Điều tra Quy hoạch rừng (FIPI) đã công bố tác phẩm “Cây gỗ rừng Việt Nam” gồm 7 tập (1971 - 1988). - Năm 1996, tác giả Phan Kế Lộc đã thống kê và công bố: Việt Nam có 10.256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và họ của thế giới.010 chi, 291 họ cây hoang dại có mạch và 733 loài, 246 chi, 14 họ các loài cây trồng. - Năm 1997, tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đã tổng hợp và chỉnh lý tên các loài thực vật theo Hệ thống phân loại của tác Brummitt (1992) đã công bố Việt Nam hiện biết 11.582 chi, 395 họ thực vật bậc cao.
- Bên cạnh đó, Việt Nam còn rất nhiều các công trình điều tra ở các mức độ khác nhau tại các tỉnh, các vườn quốc gia hay các khu bảo tồn… đã được công bố khi xây dựng các dự án đầu tư, hay phục vụ các mục tiêu khác… mà trong điều kiện hạn chế về tài liệu nên chúng tôi chưa thống kê hết. Nhìn chung, các nghiên cứu của hệ thực vật gần đây thường quan tâm về thống kê loài, mà ít quan tâm đến việc xác định các yếu tố khác như vùng phân bố, mùa ra hoa kết quả, giá trị sử dụng… c 7 Những nghiên cứu về cấu trúc thảm - Khi nói đến những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam, trước hết phải kể đến hai công trình rất có giá trị đó là: “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963 - 1978) - đã có tái bản và bổ sung năm 2001, trong đó tác giả đã chia rừng Việt Nam ra các kiểu, kiểu phụ, ưu hợp quần hợp. Công trình “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” của Trần Ngũ Phương (1970), tác giả chia rừng miền Bắc Việt Nam ra ba đai, 8 kiểu và các kiểu phụ. Đối với rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao ông không dùng kiểu mà dùng loại hình.
- Tác giả Schmid đã công bố công trình “Thảm thực vật Nam Trung Bộ” (1974), trong cuốn này, tác giả đã dựa vào điều kiện khí hậu với chế độ thoát hơi nước khác nhau, các tiêu chuẩn phân biệt các quần xã, sự phân hoá khí hậu, thành phần thực vật đai cao. Tác giả phân các loài thuộc về hệ thực vật Malêzi ở đai thấp dưới 600 m, còn các loài thuộc hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa ở đai trên 1.200 m được coi là đai chuyển tiếp. - Năm 1995, tác giả Nguyễn Vạn Thường trong khi xây dựng bản đồ thảm thực vật Bắc Trung Bộ đã chia 4 vùng sinh thái căn cứ vào độ cao so với mặt nước biển, cụ thể như sau: < 700 m nhiệt đới ẩm, < 700 m là vùng nhiệt đới ẩm có nửa mùa khô, < 700 m hơi khô không có mùa mưa rõ ràng và từ 800 - 1.500 m nhiệt đới ẩm. - Năm 1985, tác giả Phan Kế Lộc áp dụng thang phân loại của UNESCO (1973) để xây dựng thang phân loại thảm thực vật Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ, 77 quần hệ khác nhau.
Vấn đề nghiên cứu các hệ sinh thái, các kiểu thảm thực vật rừng cũng đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học ở các cấp độ và c 8 khía cạnh khác nhau tùy theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu trên mọi miền của đất nước. Những nghiên cứu về yếu tố địa lý - Hai tác giả Pocs Tamas (1965) và Lê Trần Chấn (1990) đã có những công trình ở lĩnh vực này. (1965) đã phân tích các yếu tố địa lý của hệ thực vật Bắc Việt Nam, bao gồm các yếu tố sau: Nhân tố đặc hữu 39,90% Đặc hữu Việt Nam 32,55% Đặc hữu Đông Dương 7,35% Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới 55,27% Từ Trung Quốc 12,89% Từ Ấn Độ và Himalaya 9,33% Từ Malaysia – Indonesia 25,69% Từ các vùng nhiệt đới khác 7,36% Nhân tố khác 4,83% Ôn đới 3,27% Thế giới 1,56% Tổng: 100,00% Nhân tố nhập nội, trồng trọt 3,08% - Năm 1972, tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đã phân tích các yếu tố địa lý hệ thực vật Tây Nguyên. Tác giả Thái Văn Trừng (1978) đã đưa ra phổ các yếu tố địa lý khu hệ thực vật Việt Nam gồm: yếu tố đặc hữu 50%, yếu tố di cư 50%.
Trong yếu tố di cư có yếu tố Malaysia - Indonesia 15%, yếu tố Vân Nam, Quý Châu, Hymalaya 10%, yếu tố Ấn Độ, Miến Điện 14% và các yếu tố khác 1%. - Năm 1999, tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đã dựa trên thang phân loại của Pocs T.