Nghiên Cứu Tính Đa Dạng Thực Vật Tại Vườn Quốc Gia Chư Yang Sin - Tỉnh Đắk Lắk

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại vườn quốc gia Chư Yang Sin, Đắk Lắk, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hệ sinh thái phong phú.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Khoa Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2010

81
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Quan điểm chung về đa dạng sinh học

1.2. Nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1. Trên thế giới

1.2.2. Tại Việt Nam

1.2.2.1. Những nghiên cứu về tổ thành loài thực vật
1.2.2.2. Những nghiên cứu về cấu trúc thảm
1.2.2.3. Những nghiên cứu về yếu tố địa lý
1.2.2.4. Những nghiên cứu về phổ dạng sống

1.3. Tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Phạm vi nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

2.5.2. Phương pháp điều tra thực địa

2.5.2.1. Tuyến điều tra
2.5.2.2. Ô tiêu chuẩn
2.5.2.3. Thu thập số liệu

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Đa Dạng Thực Vật Chư Yang Sin

Việt Nam, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là một trong những trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất thế giới. Tuy nhiên, áp lực từ gia tăng dân số, khai thác quá mức và chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã gây suy giảm diện tích rừng. Theo thống kê, độ che phủ rừng đã tăng lên 39,1% vào năm 2009, nhưng chất lượng rừng vẫn chưa cao, chủ yếu là rừng trồng. Diện tích rừng nguyên sinh thu hẹp, đe dọa đa dạng sinh học. Vấn đề cấp thiết là bảo vệ rừng, đa dạng gen, loài và hệ sinh thái. Việc thành lập các khu đặc dụng như Vườn quốc gia Chư Yang Sin là một giải pháp hiệu quả. Chư Yang Sin là điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học, cần được nghiên cứu và bảo vệ.

1.1. Khái niệm Đa Dạng Sinh Học và tầm quan trọng

Thuật ngữ “Đa dạng sinh học” bao hàm đa dạng di truyềnđa dạng sinh thái. Công ước về Đa dạng sinh học định nghĩa đây là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở mọi nơi, bao gồm các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước và các phức hệ sinh thái. Các dạng của đa dạng sinh học bao gồm: đa dạng di truyền, đa dạng loài, đa dạng hệ sinh tháiđa dạng văn hóa. Nghiên cứu về đa dạng thực vật và động vật là vô cùng quan trọng để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

1.2. Lịch sử Nghiên Cứu Thực Vật trên Thế Giới và Việt Nam

Nghiên cứu về thực vật và thảm thực vật đã có từ lâu, đặc biệt vào thế kỷ XIX-XX. Các công trình nghiên cứu hệ thực vật cụ thể được tiến hành từ những năm 1928-1932 tại Nga. Tại Việt Nam, công trình của Loureiro (1790), Pierre (1879-1907) và “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte et al (1905-1952) đã thống kê và mô tả hàng ngàn loài thực vật. Các nghiên cứu gần đây thường tập trung vào thống kê loài, ít quan tâm đến vùng phân bố, mùa ra hoa kết quả, giá trị sử dụng.

II. Thách Thức Bảo Tồn Đa Dạng Thực Vật Chư Yang Sin

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật tại Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, kết quả vẫn chưa đầy đủ và cần chỉnh sửa. Các nghiên cứu về tài nguyên thực vật, dạng sống, phân bố của các loài có giá trị chưa được quan tâm đúng mức. Hiện trạng các loại đất, loại rừng của Vườn đã có biến động do nhiều nguyên nhân, làm thay đổi diện tích các loại thảm thực vật. Đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin - tỉnh Đăk Lăk” là cần thiết để tạo cơ sở dữ liệu khoa học cho việc xây dựng các chiến lược, dự án, kế hoạch bảo tồn phù hợp.

2.1. Thiếu Hụt Dữ Liệu Về Thành Phần Loài Thực Vật

Các báo cáo về thành phần loài thực vật còn thiếu mẫu tiêu bản và chưa đầy đủ. Số lượng loài mới nhất mà Vườn đang sử dụng là 837 loài (tính cả những loài còn nghi vấn), bên cạnh đó việc thống kê số lượng loài còn có những sai sót. Cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn để xác định chính xác thành phần loài và phân loại chúng một cách khoa học.

2.2. Biến Động Diện Tích Thảm Thực Vật và Nguyên Nhân

Diện tích các kiểu thảm thực vật đã có sự thay đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chưa có những điều tra kiểm kê lại sau một thời gian dài. Các yếu tố như biến đổi khí hậu, hoạt động của con người (khai thác, đốt rừng làm rẫy) có thể gây ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và phát triển của các loài thực vật.

2.3. Ít Nghiên Cứu Về Tài Nguyên Thực Vật và Giá Trị Sử Dụng

Các nghiên cứu về tài nguyên thực vật, dạng sống, phân bố của các loài có giá trị chưa được quan tâm đúng mức. Cần có những nghiên cứu về giá trị sử dụng của các loài thực vật, đặc biệt là các loài thực vật dược liệu, để có thể khai thác và bảo tồn một cách bền vững.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đa Dạng Thực Vật Chư Yang Sin

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kế thừa, thu thập, tổng hợp và phân tích các tài liệu liên quan đến đa dạng thực vật của Vườn quốc gia Chư Yang Sin. Phương pháp điều tra thực địa được thực hiện theo phương pháp điều tra tuyến và ô tiêu chuẩn. Tuyến điều tra được thiết kế đi vuông góc với đường đồng mức hoặc song song với đường đồng mức và đảm bảo phải đi qua được tất cả các kiểu rừng. Ô tiêu chuẩn được bố trí dọc theo hai bên tuyến điều tra và được lập theo phương pháp điển hình. Số lượng ô tối thiểu cho một kiểu rừng là 1 ô.

3.1. Thu Thập và Phân Tích Tài Liệu Liên Quan

Sử dụng bản đồ số địa hình nền VN 2000, bản đồ hiện trạng rừng mới nhất, bản đồ quy hoạch, bản đồ giao thông, bản đồ đất, bản đồ lượng mưa… Ảnh Sport 5, độ phân giải 2,5x2,5 m, chụp tháng 5 năm 2009 và được xử lý ở cấp độ 3 (trực ảnh). Các công trình nghiên cứu có liên quan khác tại Vườn như: Dự án đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Chư Yang Sin - tỉnh Đăk Lăk, Thành phần cây hạt trần (Gymnospermae) tại vườn quốc gia Chư Yang Sin - Đăk Lăk… Danh lục thực vật hiện đang được VQG Chư Yang Sin sử dụng.

3.2. Điều Tra Tuyến và Ô Tiêu Chuẩn Thực Địa

Dựa trên bản đồ thảm thực vật và hiện trạng rừng của Vườn để xác định các hướng tuyến điều tra. Tuyến điều tra được thiết kế đi vuông góc với đường đồng mức (theo hướng từ chân núi lên sườn núi và đỉnh núi) hoặc song song với đường đồng mức và đảm bảo phải đi qua được tất cả các kiểu rừng. Chiều dài của tuyến trung bình tối thiểu là 1,5 km. Tổng số tuyến đã điều tra là 8, tổng chiều dài các tuyến là 52,5 km. Ô tiêu chuẩn được bố trí dọc theo hai bên tuyến điều tra và được lập theo phương pháp điển hình. Số lượng ô tối thiểu cho một kiểu rừng là 1 ô. Diện tích ô tiêu chuẩn là 2.000 m2 (40x50m) để điều tra cây gỗ. Tại 4 góc ô tiêu chuẩn lập 4 ô dạng bản có kích thước là 25 m2 (5x5m) để thu thập dữ liệu về cây tái sinh. Tổng số ô tiêu chuẩn đã lập là 11 ô.

3.3. Thu Thập Số Liệu Về Thành Phần Loài Thực Vật

Dọc theo tuyến điều tra, ghi chép và thu mẫu tiêu bản tất cả các loài xuất hiện ở hai bên tuyến trong phạm vi 10 m. Phân loại và định danh các mẫu thực vật thu được. Ghi chép các thông tin về đặc điểm sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng của các loài thực vật.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Đa Dạng Thực Vật VQG Chư Yang Sin

Nghiên cứu đã xác định được tính đa dạng về thành phần loài, dạng sống, nguồn gen quý hiếm và tính đa dạng của thảm thực vật tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin. Kết quả cho thấy Vườn có một hệ thực vật phong phú và đa dạng, với nhiều loài quý hiếm và có giá trị bảo tồn. Nghiên cứu cũng đã xác định được phân bố của một số loài thực vật có giá trị và đề xuất các giải pháp bảo vệ.

4.1. Đa Dạng Về Thành Phần Loài và Số Lượng Taxon

Nghiên cứu đã thống kê được số lượng taxon ở các mức độ ngành, họ, chi. Kết quả cho thấy Vườn quốc gia Chư Yang Sin có một hệ thực vật phong phú và đa dạng, với nhiều loài quý hiếm và có giá trị bảo tồn. Cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn để xác định chính xác thành phần loài và phân loại chúng một cách khoa học.

4.2. Đa Dạng Về Dạng Sống và Nguồn Gen Quý Hiếm

Nghiên cứu đã xác định được các dạng sống khác nhau của thực vật tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin. Kết quả cho thấy Vườn có nhiều loài thực vật có giá trị dược liệu, lâm sản và cảnh quan. Cần có những biện pháp bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các loài thực vật này.

4.3. Đa Dạng Của Thảm Thực Vật và Phân Bố Loài

Nghiên cứu đã xác định được các kiểu thảm thực vật khác nhau tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin. Kết quả cho thấy sự phân bố của các loài thực vật có liên quan mật thiết đến các yếu tố môi trường như độ cao, độ dốc, loại đất và lượng mưa. Cần có những nghiên cứu chi tiết hơn về mối quan hệ giữa thực vật và môi trường để có thể quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học một cách hiệu quả.

V. Giải Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Thực Vật Chư Yang Sin

Để bảo tồn đa dạng thực vật tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin, cần có các giải pháp đồng bộ như: tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng, ngăn chặn các hoạt động khai thác trái phép, phục hồi các khu rừng bị suy thoái, nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học, và xây dựng các chương trình nghiên cứu khoa học về thực vật.

5.1. Tăng Cường Quản Lý và Bảo Vệ Rừng Nghiêm Ngặt

Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng, khai thác gỗ trái phép, săn bắt động vật hoang dã. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng.

5.2. Phục Hồi Rừng Suy Thoái và Phát Triển Rừng Bền Vững

Thực hiện các biện pháp phục hồi rừng tự nhiên, trồng rừng mới, cải tạo đất, chống xói mòn. Khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế lâm nghiệp bền vững, tạo sinh kế cho người dân địa phương.

5.3. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng Về Bảo Tồn

Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của đa dạng sinh học, tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng. Khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học.

VI. Triển Vọng Nghiên Cứu Đa Dạng Thực Vật Chư Yang Sin

Nghiên cứu về đa dạng thực vật tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin cần được tiếp tục và mở rộng, tập trung vào các lĩnh vực như: nghiên cứu về thực vật đặc hữu, thực vật nguy cấp, thực vật dược liệu, và tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng thực vật. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng các chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả và phát triển kinh tế - xã hội địa phương bền vững.

6.1. Nghiên Cứu Sâu Về Thực Vật Đặc Hữu và Nguy Cấp

Tập trung nghiên cứu về các loài thực vật chỉ có ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin và các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng. Xác định các yếu tố đe dọa và đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

6.2. Khai Thác Giá Trị Thực Vật Dược Liệu Bền Vững

Nghiên cứu về thành phần hóa học, tác dụng dược lý của các loài thực vật dược liệu. Xây dựng các mô hình khai thác và chế biến thực vật dược liệu bền vững, tạo thu nhập cho người dân địa phương.

6.3. Đánh Giá Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Thực Vật

Nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật. Đề xuất các giải pháp thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng thực vật.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại vườn quốc gia chư yang sin tỉnh đăk lăk

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm chung về đa dạng sinh học Thuật ngữ “Đa dạng sinh học” lần đầu tiên được Norse and McManus (1980) định nghĩa, bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Cho đến nay, có ít nhất 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ “Đa dạng sinh học” - “biodiversity, biological diversity”, song khái niệm được dùng chung nhất được nêu trong Công ước về Đa dạng sinh học như sau: “Là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thủy vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần,.; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái”.vn/VN/quanlymt/baotondadangsh]. Như vậy, khi nói đến độ phong phú của hệ thực vật và hệ động vật tức là chúng ta đã đề cập đến “Đa dạng sinh học”.

Các dạng của đa dạng sinh học bao gồm: đa dạng di truyền, đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái và đa dạng văn hóa. Nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới - Nghiên cứu về thực vật và thảm thực vật đã có từ lâu. Song, các nghiên cứu quan trọng tập trung nhiều ở thế kỷ XIX - XX.

Tại Nga, các công trình nghiên cứu hệ thực vật cụ thể được tiến hành từ những năm 1928 - 1932. Các công trình nghiên cứu của các tác giả Tolmachop A. I (1969), Urxep (1974) đều tập trung vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu của hệ thực vật. c 4 - Việc phân loại các hệ sinh thái được dựa vào nhiều quan điểm khác nhau tùy theo từng mục đích của mỗi tác giả.

đã dựa vào cấu trúc và ngoại mạo để phân loại rừng. Cơ sở phân loại của quan điểm này là dựa vào đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác nhau của quần xã thực vật. - Các nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật phải kể đến hai công trình “Góp phần nghiên cứu địa lý thực vật Đông Dương” (1926) và “Giới thiệu hệ thực vật Đông Dương” của Gagnepain J. Tác giả xếp các loài của hệ thực vật Đông Dương thuộc 5 yếu tố địa lý khác nhau, cụ thể như sau: + Yếu tố Trung Quốc 33,8% + Yếu tố Xích Kim - Himalaya 18,5% + Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15,0% + Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9% + Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8% - Các nghiên cứu về dạng sống của thực vật trên thế giới được đề cập trong nhiều công trình.

Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của Raunkiaer (1934) đã đưa ra phương pháp lập phổ dạng sống cho hệ thực vật hiện nay được sử dụng rộng rãi nhất. Khi phân biệt dạng sống của thực vật, trong hàng loạt dấu hiệu thích nghi Raunkiear chỉ chọn một dấu hiệu cho việc phân loại dạng sống của mình: Đó là vị trí của chồi so với mặt đất trong thời kỳ không thuận lợi của năm. Ông đã chia ra năm nhóm dạng sống cơ bản: Cây có chồi trên đất (Phanerophytes), cây có chồi sát đất (Chamaephytes), cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes), cây chồi ẩn (Cryptophytes), cây chồi 1 năm (Therophytes). Raunkiaer cũng đã lập phổ dạng sống tiêu chuẩn cho 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên trái đất dưới dạng: SN = 46 Ph + 9Ch + 26 H + 6Cr + 13Th.

c 5 Đây là cơ sở để so sánh phổ dạng sống của thảm thực vật ở các vùng khác nhau trên trái đất. Do đó, khi đã tổng hợp được khối lượng các kiểu dạng sống trong kiểu thảm thực vật, chúng ta có thể tính phần trăm của từng dạng sống trên phổ dạng sống của kiểu đó, tức SB để so sánh với SN. Thông thường, ở các vùng nhiệt đới, trong rừng ẩm thì Ph là 80%, Ch vào khoảng gần 20%, còn Hm, Cr và Th rất ít gần như không có. Trái lại trong vùng khô hạn thì Th và Cr có thể có tỉ lệ khá cao, còn Ph thì giảm xuống.

Tại Việt Nam Những nghiên cứu về tổ thành loài thực vật - Các công trình nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam, trước hết phải kể đến công trình của tác giả Loureiro (1790), Pierre (1879 - 1907) và một tác phẩm quan trọng là “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte et al (1905-1952) bao gồm 7 tập, trong đó thống kê và mô tả hơn 7.000 loài thực vật ở Đông Dương. - Tác giả Pocs Tamas (1965) đã thống kê được 5.190 loài thực vật ở miền Bắc Việt Nam và công bố loài của ngành rêu (Bryophyta) ở Việt Nam. - Tác giả Phạm Hoàng Hộ (1970 - 1972) trong tập “Cây cỏ Việt Nam” công bố 5.326 loài thực vật ở miền Nam Việt Nam. - Tác giả Thái Văn Trừng đã dựa trên “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte et al (1905-1952) đưa ra Hệ thực vật Việt Nam gồm 7.850 chi và 289 họ.

- Tác giả Phan Kế Lộc (1973) trong công trình “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam” đã công bố 5.609 loài thực vật có mạch có ở miền Bắc Việt Nam. c 6 - Năm 1984, các tác giả Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể nghiên cứu đã công bố “Danh lục thực vật Tây Nguyên” với 3.754 loài thực vật bậc cao có mạch được ghi nhận. - Tác giả Lê Trần Chấn (1990) đã công bố “Bản danh lục” gồm 1.261 loài thực vật bậc cao phân bố trên diện tích 15 km2 ở Lâm Sơn (Hà Sơn Bình). - Năm 1990, tác giả Nguyễn Tiến Bân đã công bố số liệu về thực vật hạt kín Việt Nam hiện biết là 8.

- Tác giả Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) ở 3 tập “Cây cỏ Việt Nam” đã công bố 10.484 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. - Viện Điều tra Quy hoạch rừng (FIPI) đã công bố tác phẩm “Cây gỗ rừng Việt Nam” gồm 7 tập (1971 - 1988). - Năm 1996, tác giả Phan Kế Lộc đã thống kê và công bố: Việt Nam có 10.256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và họ của thế giới.010 chi, 291 họ cây hoang dại có mạch và 733 loài, 246 chi, 14 họ các loài cây trồng. - Năm 1997, tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đã tổng hợp và chỉnh lý tên các loài thực vật theo Hệ thống phân loại của tác Brummitt (1992) đã công bố Việt Nam hiện biết 11.582 chi, 395 họ thực vật bậc cao.

- Bên cạnh đó, Việt Nam còn rất nhiều các công trình điều tra ở các mức độ khác nhau tại các tỉnh, các vườn quốc gia hay các khu bảo tồn… đã được công bố khi xây dựng các dự án đầu tư, hay phục vụ các mục tiêu khác… mà trong điều kiện hạn chế về tài liệu nên chúng tôi chưa thống kê hết. Nhìn chung, các nghiên cứu của hệ thực vật gần đây thường quan tâm về thống kê loài, mà ít quan tâm đến việc xác định các yếu tố khác như vùng phân bố, mùa ra hoa kết quả, giá trị sử dụng… c 7 Những nghiên cứu về cấu trúc thảm - Khi nói đến những nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam, trước hết phải kể đến hai công trình rất có giá trị đó là: “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963 - 1978) - đã có tái bản và bổ sung năm 2001, trong đó tác giả đã chia rừng Việt Nam ra các kiểu, kiểu phụ, ưu hợp quần hợp. Công trình “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” của Trần Ngũ Phương (1970), tác giả chia rừng miền Bắc Việt Nam ra ba đai, 8 kiểu và các kiểu phụ. Đối với rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao ông không dùng kiểu mà dùng loại hình.

- Tác giả Schmid đã công bố công trình “Thảm thực vật Nam Trung Bộ” (1974), trong cuốn này, tác giả đã dựa vào điều kiện khí hậu với chế độ thoát hơi nước khác nhau, các tiêu chuẩn phân biệt các quần xã, sự phân hoá khí hậu, thành phần thực vật đai cao. Tác giả phân các loài thuộc về hệ thực vật Malêzi ở đai thấp dưới 600 m, còn các loài thuộc hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa ở đai trên 1.200 m được coi là đai chuyển tiếp. - Năm 1995, tác giả Nguyễn Vạn Thường trong khi xây dựng bản đồ thảm thực vật Bắc Trung Bộ đã chia 4 vùng sinh thái căn cứ vào độ cao so với mặt nước biển, cụ thể như sau: < 700 m nhiệt đới ẩm, < 700 m là vùng nhiệt đới ẩm có nửa mùa khô, < 700 m hơi khô không có mùa mưa rõ ràng và từ 800 - 1.500 m nhiệt đới ẩm. - Năm 1985, tác giả Phan Kế Lộc áp dụng thang phân loại của UNESCO (1973) để xây dựng thang phân loại thảm thực vật Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ, 77 quần hệ khác nhau.

Vấn đề nghiên cứu các hệ sinh thái, các kiểu thảm thực vật rừng cũng đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học ở các cấp độ và c 8 khía cạnh khác nhau tùy theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu trên mọi miền của đất nước. Những nghiên cứu về yếu tố địa lý - Hai tác giả Pocs Tamas (1965) và Lê Trần Chấn (1990) đã có những công trình ở lĩnh vực này. (1965) đã phân tích các yếu tố địa lý của hệ thực vật Bắc Việt Nam, bao gồm các yếu tố sau: Nhân tố đặc hữu 39,90% Đặc hữu Việt Nam 32,55% Đặc hữu Đông Dương 7,35% Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới 55,27% Từ Trung Quốc 12,89% Từ Ấn Độ và Himalaya 9,33% Từ Malaysia – Indonesia 25,69% Từ các vùng nhiệt đới khác 7,36% Nhân tố khác 4,83% Ôn đới 3,27% Thế giới 1,56% Tổng: 100,00% Nhân tố nhập nội, trồng trọt 3,08% - Năm 1972, tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đã phân tích các yếu tố địa lý hệ thực vật Tây Nguyên. Tác giả Thái Văn Trừng (1978) đã đưa ra phổ các yếu tố địa lý khu hệ thực vật Việt Nam gồm: yếu tố đặc hữu 50%, yếu tố di cư 50%.

Trong yếu tố di cư có yếu tố Malaysia - Indonesia 15%, yếu tố Vân Nam, Quý Châu, Hymalaya 10%, yếu tố Ấn Độ, Miến Điện 14% và các yếu tố khác 1%. - Năm 1999, tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đã dựa trên thang phân loại của Pocs T.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đa Dạng Thực Vật Tại Vườn Quốc Gia Chư Yang Sin, Đắk Lắk" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng thực vật trong khu vực này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài thực vật quý hiếm. Nghiên cứu không chỉ giúp nâng cao nhận thức về giá trị sinh thái của vườn quốc gia mà còn chỉ ra những thách thức mà hệ sinh thái đang phải đối mặt. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các loài thực vật đặc trưng, cũng như các biện pháp bảo tồn cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp nghiên cứu lượng vật rơi rụng ở một số kiểu rừng tự nhiên và rừng trồng tại vườn quốc gia cúc phương ninh bình, nơi nghiên cứu về sự rơi rụng của thực vật trong các kiểu rừng khác nhau. Bên cạnh đó, tài liệu Đề cương nghiên cứu luận văn thạc sĩ điều tra đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng phòng hộ nam hòn khô thành phố nha trang tỉnh khánh hòa sẽ cung cấp thêm thông tin về sự đa dạng thực vật trong các khu rừng phòng hộ. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho phục hồi rừng tự nhiên tại vùng đệm vườn quốc gia nặm pui tỉnh sayaboury nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào, nơi bàn về các phương pháp phục hồi rừng tự nhiên, góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến đa dạng thực vật và bảo tồn sinh thái.