MỞ ĐẦU Đi đôi với sự phát triển không ngừng của khoa học, các ngành kỹ thuật hiện đại ra đời, không ngừng đổi mới để phục vụ cho mọi lĩnh vực của xã hội. Chăm sóc sức khỏe là một lĩnh vực rất đặc biệt và được đưa lên hàng đầu. Hiện nay, bên cạnh việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại để tạo ra các sản phẩm điều trị, chăm sóc sức khỏe tối ưu thì ngành y học có xu hướng quay về với tự nhiên, kết hợp giữa liệu pháp hiện đại và y học cổ truyền hoặc chỉ sử dụng đơn thuần liệu pháp tự nhiên bởi tính thiết thực, an toàn. Trong đó, việc sử dụng các loài thảo dược rất được quan tâm và chú trọng.
Tổ chức Y tế Thế giới đã thống kê, trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp và bậc cao, có tới hơn 30.000 loài được sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền hoặc cung cấp các hợp chất tự nhiên để làm thuốc [64]. Theo thống kê của Viện Dược liệu (2016), Việt Nam có 5.823 chi, 360 họ, của ngành thực vật bậc cao có mạch, cùng với một số loài thuộc nhóm tảo lớn, rêu và nấm lớn có công dụng làm thuốc [56]. Nước ta nằm trong vùng khí hậu gió mùa nóng và ẩm Đông Nam Á, cộng với các đặc điểm về vị trí địa lý và địa hình lãnh thổ, góp phần tạo ra một nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Được thiên nhiên ưu ái nên hàng năm, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên đã cung cấp 10.000 tấn dược liệu, đáp ứng gần như đầy đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước.
Nhiều loài dược liệu có giá trị kinh tế cao thường xuyên được xuất khẩu [56]. Vì vậy, đây thực sự là cơ hội cho ngành dược liệu của Việt Nam phát triển [53]. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như: biến đổi khí hậu, thiên tai, nạn khai thác không hợp lí,… nên nguồn cây thuốc ở nước ta hiện đã bị suy giảm nghiêm trọng. Theo thống kê có 144 loài được đưa vào diện bảo tồn ở Việt Nam [41], [42].
Kon Ka Kinh là một trong những Vườn Quốc gia (VQG) lớn với tổng diện tích tự nhiên là 41.780 ha, nơi có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao của Tây Nguyên cũng như của Việt Nam, được công nhận là Vườn di sản Asian. là nơi bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái, kho lưu trữ vô giá các loài động thực vật quý hiếm [30]. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về tiềm năng cũng như hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở VQG Kon Ka Kinh. Vì vậy, việc điều tra, nghiên cứu để đánh giá đa dạng cây thuốc của VQG Kon Ka Kinh có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm cung cấp những số liệu cơ bản về nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa phương, từ đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên cây thuốc này là vấn đề có tính cấp thiết.
Do vậy, đề tài: “Nghiên cứu đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh tỉnh Gia Lai” được thực hiện với những mục tiêu sau: - Điều tra, xây dựng danh lục các loài cây thuốc ở các sinh cảnh khác nhau của VQG Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai. Trên cơ sở đó xác định các loài quý hiếm, đặc hữu cần được ưu tiên bảo vệ. - Đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc ở VQG Kon Ka Kinh. Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài chúng tôi thực hiện những nội dung chính sau: - Điều tra, thu thập và xây dựng danh lục cây thuốc ở VQG Kon Ka Kinh thuộc tỉnh Gia Lai, từ đó xác định các loài quý hiếm, đặc hữu có giá trị bảo tồn.
- Đánh giá, đề xuất các biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc ở VQG Kon Ka Kinh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh 1. Điều kiện tự nhiên 1.
Vị trí địa lí VQG Kon Ka Kinh nằm trong khu vực giữa Đông và Tây của dãy Trường Sơn, thuộc địa bàn ba huyện Mang Yang, Kbang và Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai. Trung tâm hành chính của Vườn nằm ở xã Ayun, huyện Mang Yang, cách thành phố Pleiku khoảng 50 km về hướng Đông Bắc. Tọa độ: X: 14°09'22” đến 14°29'52” vĩ độ Bắc. Y: 108°15'26” đến 108°27’25” kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum và một phần xã Đăk Roong, huyện Kbang. Phía Nam giáp xã Hà Ra, một phần xã A Yun, Đăk Jơta, huyện Mang Yang. Phía Đông giáp một phần xã Đăk Roong, Kroong và xã Lơ Ku, huyện Kbang. Phía Tây giáp một phần xã Hà Đông, Đăk Smêi, huyện Đăk Đoa [30].
Bản đồ vị trí VQG Kon Ka Kinh [9]. Địa hình, thổ nhưỡng VQG Kon Ka Kinh phân bố trong vùng tiếp giáp giữa cao nguyên Pleiku với cao nguyên Kon Hà Nừng, gồm nhiều dãy núi có độ cao trung bình từ 1.500 m, cao nhất là đỉnh Kon Ka Kinh 1.748 m, thấp nhất là vùng đất phía Đông với độ cao khoảng 600 m. Địa hình của VQG Kon Ka Kinh thấp dần từ Bắc xuống Nam. Sườn Đông với độ dốc lớn và ngắn, có độ cao khoảng 800 - 1.
Sườn Tây của khối núi Kon Ka Kinh thấp dần từ Đông sang Tây, dốc dài, thoải dần, mức độ chia cắt của địa hình không phức tạp, độ cao dao động từ khoảng 900 - 1. Với kiểu địa hình núi trung bình là chủ yếu. Trong phạm vi lãnh thổ của Vườn quốc gia có 3 kiểu địa hình chính sau: - Kiểu địa hình núi cao (N1), chiếm 0,1% diện tích tự nhiên của Vườn. Phân bố ở đỉnh Kon Ka Kinh, có độ cao từ 1.
- Kiểu địa hình núi trung bình (N2), chiếm 98,5% diện tích tự nhiên của Vườn. Phân bố gần như toàn bộ Vườn quốc gia, có độ cao từ 700 - 1. - Kiểu địa hình núi thấp (N3), chiếm 1,4% diện tích tự nhiên của Vườn. Phân bố dọc theo các nhánh của suối Đăk Lor, có độ cao từ 600 - 700 m [30] [9].
VQG Kon Ka Kinh hình thành từ 4 nhóm đá mẹ sau: - Nhóm đá Mác ma axit, chủ yếu là đá Granite. - Nhóm đá Mác ma kiềm trung tính, chủ yếu là đá Bazan. - Nhóm đá Phiến sét biến chất, chủ yếu là đá Phiến thạch sét và Phiến thạch mi ca. - Nhóm vật chất dốc tụ ven suối.
VQG Kon Ka Kinh có 6 loại đất chính sau:[9] - Đất Feralit mùn vàng đỏ phát triển trên đá Mác ma axít (FHa): Diện tích: 22.640 ha, chiếm 54,2% diện tích VQG; phân bố tập trung ở vùng trung tâm và sườn phía Tây Kon Ka Kinh; hình thành trong các điều kiện khí hậu lạnh, ẩm, có tầng thảm mục thô chưa phân hủy dày từ 5 - 8 cm, đất tơi xốp (pHkcl 4,0- 4,6), thành phần cơ giới thịt trung bình và thịt nặng. Thích nghi với các loài: Hồng tùng, Pơ mu, Thông 5 lá,. - Đất Feralit mùn nâu vàng phát triển trên đá Mác ma kiềm trung tính (FHk): Diện tích: 5. chiếm 12,4 % diện tích VQG; phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc Kon Ka Kinh; đất hơi chua (pHkcl <5,5), thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, tầng mùn mỏng, đất tơi xốp, độ dày tầng đất từ 50 - 100 cm.
Thích nghi với các loài như: Giổi xanh, Bời lời nhớt,. - Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá sét biến chất (FHs): Diện tích: 1. chiếm 2,7% diện tích VQG; phân bố chủ yếu ở phía Tây Bắc Kon Ka Kinh; đất ít chua, thành phần cơ giới thịt nhẹ, thịt trung bình, tầng mùn mỏng. Loại đất này thích nghi với các loài như: Bời lời đỏ, Thông 3 lá, Sao đen,.
- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá Mác ma axit (Fa): Diện tích: 5.500 ha, chiếm 13,2% diện tích tự nhiên của VQG; phân bố chủ yếu trên sườn phía Đông Bắc Kon Ka Kinh, thuộc Cao nguyên Kon Hà Nừng, và một số ít diện tích thuộc xã AJun; đất chua (pHkcl 3,9- 4,7), có tỷ lệ mùn thấp (0,5- 0,7%), thành phần cơ giới thịt nhẹ và thịt pha sét, độ dầy tầng đất trung bình. Loại đất này thích hợp với các loài: Giổi xanh, Thông 3 lá, Sao đen,. - Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá Mác ma kiềm trung tính (Fk): Diện tích: 6.690 ha, chiếm 16,0% diện tích VQG; phân bố chủ yếu ở sườn Đông Kon Ka Kinh; đất có tầng dày >100 cm, hơi chua ( pHkcl <5,5), thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc thịt trung bình, hàm lượng hữu cơ tương đối cao; thích hợp với các loài cây trồng nông, lâm nghiệp, cây Cà phê, Cao su, cây ăn quả. - Đất phù sa ven sông suối (P): Diện tích: 600 ha, chiếm 1,4% diện tích của VQG; Phân bố dọc theo các thung lũng ven sông suối; đất trung tính (pHkcl 7,0- 7,2), thành phần cơ giới thịt trung bình, tỷ lệ mùn 2,7- 3,2%, độ dầy tầng đất trung bình 50- 100 cm; thích hợp với các loài cây trồng nông nghiệp như Lúa, Ngô, Khoai, Đậu các loại.
Khí hậu Kon Ka Kinh chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa. khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21oC đến 25oC.
Tháng 5 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 25oC. Tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất trung bình là 16oC, riêng khu vực đỉnh Kon Ka Kinh có nhiệt độ dưới 15oC. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm biến động từ 2. Trong đó lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 70 - 75% lượng mưa cả năm.
Độ ẩm bình quân năm 80%. Hướng gió thịnh hành ở Kon Ka Kinh là gió mùa Tây Nam thổi trong các tháng mùa khô và gió mùa Đông Bắc thổi trong các tháng mùa mưa [30]. Thủy văn VQG Kon Ka Kinh có 3 hệ thống suối chính thuộc đầu nguồn của các con sông trong vùng, với nhiều nhánh suối nhỏ, có mật độ tương đối dày, phân bố tương đối đều. Đặc điểm của hệ thống suối nơi đây về mùa mưa có lưu lượng nước khá lớn ngược lại về mùa khô lại rất thấp.
Lưu vực sông Ba: là hệ sông lớn nhất, được bắt nguồn từ các nhánh suối ở phía Bắc xã Đăk Roong, chảy theo hướng Bắc Nam, chảy qua VQG tại tiểu khu 18 với chiều dài khoảng 11 km. Toàn bộ các hệ thống suối ở mạn sườn Đông Bắc, Đông Nam Kon Ka Kinh đều thuộc lưu vực của sông Ba, với diện tích khoảng 230 km2.