Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Việt Nam được coi là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới, và được công nhận là quốc gia có tỉ lệ các loài động, thực vật quí hiếm và đặc hữu có ý nghĩa toàn cầu (Regalado và các cộng sự, 2005). Những đánh giá ban đầu (Tolmachev, 1974; Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997; Phan Kế Lộc, 1998) cho biết rằng có khoảng 9600 loài thực vật bậc cao có mạch bản địa đã phát triển ở Việt Nam. Thêm vào đó, có khoảng 750 loài cây trồng được nhập nội và loài tự nhiên hoá. Theo đánh giá gần đây nhất, ở Việt Nam đã biết khoảng 10.256 chi và 305 họ (Phan Kế Lộc, 1998).
Các nghiên cứu đó cũng dự đoán có khoảng 240 loài sẽ được phát hiện và bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam (Phan Kế Lộc, 1998). Hệ thực vật Việt Nam không chỉ phong phú mà còn giầu các loài đặc hữu, bổ sung thêm vào ý nghĩa về sinh học và bảo tồn. Tỷ lệ của các loài đặc hữu của Việt Nam được ước đoán có khoảng 20% (Pocs, 1965) đến 50% (Thái Văn Trừng, 1978). Một đánh giá khiêm tốn hơn (Võ Quý, 1995) cho rằng ở Việt Nam chỉ có khoảng 10% số loài và 3% số chi là đặc hữu.
Tài nguyên thực vật Bắc Hướng Hóa Theo kết quả nghiên cứu ban đầu về đa dạng sinh học tại Bắc Hướng Hoá các năm 2004 và 2005 của tổ chức Birdlife Quốc tế Chương trình Việt Nam phối hợp với Chi cục kiểm lâm Quảng Trị đã ghi nhận được 920 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 518 chi và 130 họ 17. Trong đó có 17 loài quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và 23 loài được ghi trong Sách Đỏ Thế Giới (IUCN 1994). Về giá trị tài nguyên, trong tổng số những loài thống kê được có 125 loài cây cung cấp gỗ, 161 loài cây làm thuốc, 44 loài cây làm cảnh và 89 loài cây làm thực phẩm (ăn được). Đa dạng của một số họ thực vật ở BTTN Bắc Hướng Hoá Tại đây có 13 họ có tính đa dạng cao về số lượng chi và loài 17.
Xét về số lượng chi có 12 họ có số chi từ 7 – 20 chi. Họ Cà phê (Rubiaceae), họ Hoà thảo (Poaceae), họ Lan (Orchidaceae) có số lượng chi cao nhất từ 16 – 20 chi. Còn 7 họ khác: họ Mua (Melastomataceae); Dâu tằm (Moraceae); Bồ hòn (Sapindaceae); Chè (Theaceae); Gai (Urticaceae); Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) và Cau (Arecaceae) có số chi dao động từ 7 đến 9 chi. Về số lượng loài: Có 5 họ có số lượng trên 20 loài: Long não (Lauraceae); Dâu tằm (Moraceae) và Cà phê (Rubiaceae) có 24 loài/mỗi họ; Lan (Orchidaceae) có 26 loài; Hoà thảo (Poaceae) có 23 loài; các họ Đơn nem (Myrsinaceae), Cam (Rutaceae), Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), Mua (Melastomataceae), Gai (Urticaceae), Chè (Theaceae), Cau (Arecaceae), Bồ hòn (Sapindaceae) có từ 10 loài đến 19 loài.
Đa dạng Hệ thực vật tại khu BTTN Bắc Hướng Hoá so với các khu vực lân cận Theo các nghiên cứu của các hệ thực vật vùng lân cận : Bạch Mã, Đakrông và Bắc Hướng Hoá đã có khác biệt nhau ít nhiều về số lượng các taxon (bậc họ; bậc chi; bậc loài). Nhưng ba khu vực này có những nét tương đồng về Hệ thực vật, có tới 90% các họ gặp ở cả 3 khu vực. Sự khác biệt về mặt số lượng chính bởi sự hạn chế về mức độ nghiên cứu tại mỗi vùng. Điều này cũng chỉ ra tại Đăkrông và Bắc Hướng Hoá có Hệ thực vật đa dạng không kém so với Vườn Quốc gia Bạch Mã, cần có những nghiên cứu xa hơn nữa trong quá trình quản lý khu bảo tồn sau này mới có thể khẳng định.1: So sánh tính đa dạng thực vật tại khu BTTN Bắc Hướng Hoá với các khu bảo tồn trong vùng Ngành Họ Chi Loài BHH Đak BM BHH Đak BM BHH Đak BM Ngành Thông đất 2 2 2 2 2 3 6 3 16 (Lycopodiophyta) Ngành Mộc tặc (Equisetophyta) 1 0 1 1 0 1 1 0 1 Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 11 11 24 31 15 68 68 30 162 Ngành Thông (Pinophyta) 4 3 7 6 6 11 9 10 20 Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 122 114 156 487 505 669 836 1009 1448 -Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) 91 93 130 388 404 411 707 857 1103 -Lớp Hành (Liliopsida) 21 21 26 90 101 158 129 152 345 Tổng 130 130 190 518 528 752 920 1055 1547 Ghi chú: BHH= Bắc Hướng Hóa, Đak= Đakrông, BM= Bạch Mã 1.
Một số quan điểm về sử dụng thực vật trong cảnh quan đô thị Ở Việt Nam, nhóm tài nguyên cây cho gỗ tập trung nhiều nhất vào hai ngành thực vật tiến hóa nhất trong giới thực vật là Thông (Pinophyta) và Ngọc lan (Magnoliophyta), hiện nay chiếm hầu hết các diện tích đất rừng tự nhiên và gây trồng. Trong tổng số khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, nhóm cây cho gỗ có đến 2.500 loài, phân bố trong các họ thực vật lớn hoặc trong các họ tuy số loài ít nhưng số cá thể lớn, tạo nên các kiểu thảm 6 thực vật tối ưu. Nhóm cây cho gỗ cung cấp gỗ cho nhu cầu xây dựng, đóng đồ, làm các công trình công nghiệp. Ngoài ra, nhóm cây cho gỗ này còn đóng góp cho con người sử dụng nhiều sản phẩm quý chứa trong các cơ quan của cây dùng làm thuốc, làm thực phẩm, dầu nhựa, tanin, chất màu,.
Trong đô thị, cây trồng được chia thành các đơn vị chức năng: bảo vệ môi trường, che bóng, dùng làm đẹp và trang trí (hương thơm, tán lá, màu hoa, dạng quả), dùng làm vật kỷ niệm (cây Đa, cây Đề). Do đó cây sử dụng trong đô thị thường được lựa chọn là cây trồng đa chức năng. Ví dụ: Sấu (Dracontomelon duperreanum) dùng ăn quả, làm bóng mát, làm thuốc hay lấy gỗ, đại đa số mọi người dân ghi nhận công tác dụng chính của Sấu là cây bóng mát trong đô thị. Cây trong đô thị được sử dụng đa chức năng gồm một số các chức năng như: bóng mát, làm cảnh (sử dụng hoa, quả, lá, tán, mùi hương), điều hoà tiểu khí hậu, bảo vệ hoặc cải tạo môi trường, chắn gió, ăn quả, làm thuốc, … Nhưng chức năng chính và được dùng phổ biến là che bóng và làm cảnh.
Nhóm cây cảnh và cây bóng mát thường dùng trong đô thị yêu cầu có giá trị thẩm mỹ cao. Nhóm cây cảnh và cây bóng mát bao gồm: Cây hoa, cây cảnh và cây bóng mát. Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện tự nhiên 2.
Lịch sử hình thành Ngày 8/12/2005 Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Trị đã có công văn số 2036/TT-UB đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành lập hai khu rừng đặc dụng của tỉnh Quảng Trị là Bắc Hướng Hoá và khu cảnh quan Đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Gần 1 năm sau đó, ngày 13/07/2005, Bộ NN&PTNT nêu rõ hai khu rừng nói trên đã được Bộ đưa vào danh mục các khu rừng đặc dụng Việt Nam quy hoạch đến 2010 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Đồng thời, Bộ cũng yêu cầu tỉnh Quảng Trị phải xây dựng những luận chứng kinh tế kỹ thuật trong việc thành lập khu rừng đặc dụng để trình Bộ NN&PTNT thẩm định để có cơ sở vững chắc và chiến lược nhằm bảo vệ đa dạng sinh học tiêu biểu của vùng, duy trì và phát triển chức năng phòng hộ quan trọng của rừng Bắc Hướng Hoá đối với phát triển kinh tế địa phương. Thực hiện công văn của Bộ NN&PTNT, Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Trị đã chỉ định Chi cục Kiểm lâm chịu trách nhiệm thực hiện công văn trên của Bộ.
Với sự hỗ trợ của tổ chức BirdLife Quốc Tế Chương trình Việt Nam cả về tài chính và chuyên gia quy hoạch bảo tồn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị đã tiến hành dự án “Xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị”. Các hoạt động thực địa được triển khai, bao gồm thu thập số liệu đa dạng sinh học, đánh giá tình trạng rừng, xác định ranh giới quy hoạch ngoài thực địa, thu thập kinh tế xã hội ở 5 xã vùng đệm của huyện 8 Hướng Hoá và 1 xã của Đakrông nhằm xây dựng dự án đầu tư thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá, giai đoạn 2006 – 2010. Ngày 05/12/2006 Bộ NN&PTNT đã có văn bản số 3251/BNN-LN gửi UBND tỉnh về việc thẩm định kết quả quy hoạch rà soát ba loại rừng của tỉnh Quảng Trị, trong đó diện tích quy hoạch cho khu bảo tồn Bắc Hướng Hoá là 25. Ngày 14/03/2007, UBND tỉnh đã ra quyết định số 479/QĐ-UBND về việc phê duyệt Dự án quy hoạch và đầu tư Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá.
Vị trí địa lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa cách trung tâm huyện Hướng Hóa khoảng 50 km về phía Bắc của tỉnh Quảng Trị, nằm trên trục đường Hồ Chí Minh nhánh Tây. Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp với nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, phía Đông và phía Nam giáp với 6 xã của huyện Hướng Hoá và Vĩnh Linh. Toàn bộ khu vực bảo tồn được giới hạn ở toạ độ địa lý: - Từ 16o43’22’’ đến 16o59’55’’ vĩ độ Bắc. - Từ 106o33’00’’ đến 106o47’03’’ kinh độ Đông.
Địa hình Khu bảo tồn có địa hình là vùng núi thấp ở phía Nam của dải Trường Sơn Bắc với dãy núi cao trên 1000 m chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam dọc ranh giới hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị. Địa hình nâng cao hơn về phía tỉnh Quảng Trị, chia cắt mạnh, độ dốc cao từ 15 – 25o, nhiều nơi còn có dốc đứng. Các đỉnh cao tiêu biểu của khu vực bao gồm: Động Sa Mù (1550 m) gần đèo Sa Mù và Động Voi Mẹp hay còn gọi là Voi nằm có độ cao 1771 m ở phía Đông Nam khu bảo tồn. Ngoài địa hình đồi và núi đất còn có hai dãy 9 núi đá vôi, một dãy ở gần trung tâm và chạy dọc theo hướng Đông – Tây, thuộc ranh giới hai xã Hướng Lập và Hướng Việt, một dãy khác chạy theo hướng Bắc – Nam và nằm giữa trung tâm của xã Hướng Việt.
Địa chất Khu vực nghiên cứu nằm trên hệ địa máng - uốn nếp Caledon Việt – Lào ở Bắc Trung Bộ, giới hạn bởi đứt gãy sâu sông Mã ở phía Bắc và đứt gãy sâu Tam Kỳ - Hiệp Đức ở phía Nam. Các địa máng được cho là phát triển từ kỷ Cambri hoặc có thể từ Sini cho đến cuối Silur hoặc đầu Đevon. Trên chúng đã hình thành các lớp phủ nền trẻ Epicaledon Paleozoi giữa-muộn. Hầu hết các núi trung bình được cấu tạo bởi đá Granit phân bố khá phổ biến trong vùng.