Chương 1 TỔNG QUAN TÀ I LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu chim ở Viêṭ Nam Việc nghiên cứu tài nguyên Động vật hoang dã, đặc biệt là chim trong khu vực Đông Dương đã được bắt đầu từ cách đây vài thế kỷ. Trong “Vân đài loại ngữ” của Lê Qúy Đôn ở thế kỷ 18 đã ghi nhận loài Công (Pavo munticus) ở Sơn Tây. Đại Nam nhất thống chí ghi nhận công là loài chim đẹp, quý, có ở Phú Lương và Võ Nhai (thuộc Thái nguyên ngày nay) và ở hầu hết các tỉnh miền Trung.
Tuy nhiên, đây chưa phải là các công trình nghiên cứu khoa học về chim. Tài liệu chim đầu tiên là bản mô tả loài Gà rừng (Gallus gallus) của Linnaeus với tiêu bản bắt được ở đảo Côn Lôn. Sau đó 30 năm, năm 1788 Gơmơlanh mô tả loài chim thứ hai bắt được ở Đông Dương, đó là loài Chim xanh Nam bộ (Chloropsis cochinensis). Mặc dù vậy, cho đến nay những hiểu biết về tài nguyên động vật của Đông Dương nói chung và chim nói riêng vẫn còn hạn chế.
Sau khi xâm chiếm miền Nam Đông Dương, người Pháp bắt đầu chú ý đến nghiên cứu thiên nhiên vùng này. Mặc dù vào thời gian đầu họ không tổ chức một cuộc sưu tầm nào lớn, nhưng từ năm 1862 đến năm 1874 nhiều đợt nghiên cứu chim khá quy mô do các nhà tự nhiên học nghiệp dư đã sưu tầm được một số lượng mẫu vật khá lớn và chuyển về Pháp để phân tích (Võ Quý, 1975)[20]. Oustalet cho xuất bản công trình “Chim Campuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam” và năm 1907, Uxtalê và Gecmanh cho xuất bản tập “Danh sách Chim Nam Bộ”. Cũng vào quãng thời gian đó Butan tổ chức sưu tầm chim ở miền Bắc Việt Nam, kết quả được công bố trong tập “Mười năm nghiên cứu động vật”.
Ông đã ghi nhận được 90 loài và một số dẫn liệu về sinh học của một số loài (Võ Quý, 1975)[20]. 4 Năm 1918 một cuộc sưu tầm chim khác ở Đông Dương đã được tổ chức dưới sự chỉ đạo của Boden Klox, với kết quả thu được là 1. Kết quả này được Robinson và Klox công bố trong tập “Chim Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam”. Công trình này ghi nhận 235 loài và phân loài, trong đó có 34 dạng mới cho khoa học.
Cũng trong khoảng thời gian đó nhà Điểu học người Nhật Kurôđa đã phân tích bộ sưu tập chim của S. Txikia và đã ghi nhận được 130 loài và phân loài (Võ Quý, 1975)[20]. Grinuây và đồng nghiệp đã tiến hành tất cả 7 cuộc sưu tầm lớn ở nhiều vùng khác nhau trên lãnh thổ Đông Dương, với 23.000 tiêu bản đã được thu thập đưa về Pháp giám định. Các tiêu bản này sau đó được phân chia cho các Viện Bảo tàng lớn ở Pháp, Anh và Mỹ (Võ Quý, 1981)[21].
Từ năm 1941-1950, các mẫu tiêu bản chim thu thập ở Lào và một số địa phương ở miền Bắc Việt Nam được gửi về phòng nghiên cứu động vật trường Đại học Tổng Hợp Đông Dương giám định. Các mẫu vật này đã được Buaret phân tích và công bố. Trong thời gian này, đáng chú ý có công trình nghiên cứu về chim ở Lào của Boliơ. Ông đã thu thập được 6.000 tiêu bản của 505 loài và phân loài.
Ngoài ra, nhiều tác giả khác đã công bố một số công trình nghiên cứu về chim thu thập được ở vùng Đông Nam Á, trong đó có 20 dạng mới sưu tầm được trên lãnh thổ Đông Dương. Dựa vào các công trình mới này, vào năm 1951, Dơlacua lại lần thứ 3 cập nhật danh lục chim Đông Dương (Delacour, 1951). Danh lục mới này bao gồm 1.085 loài và phân loài (Võ Quý, 1981)[21]. Sau khi miền Bắc được giải phóng, một số nhà khoa học Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về khu hệ chim ở Việt Nam.
Đáng chú ý có các công trình nghiên cứu của các tác giả Võ Quý, Trần Gia Huấn (1960, 1961); Võ Quý (1962, 1966); Võ Quý, Đỗ Ngọc Quang (1965), Võ Quý và Anorava N. 5 Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác về chim miền Bắc Việt Nam. Hầu hết các công trình này cũng chỉ mới đề cập đến khu hệ chim của một vài vùng nhỏ của Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ XX, chương trình hợp tác giữa Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng và tổ chức bảo vệ chim Quốc tế (BirdLife International) đã tiến hành điều tra một số khu rừng đặc dụng và phát hiện thêm 2 loài chim mới cho khoa học, đó là Khướu Ngọc Linh (Garrulax ngoclinhensis) và Khướu Kon Ka Kinh (Garrulax konkakinhensis).
Tóm lại việc nghiên cứu chim ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng đã có lịch sử vài thế kỷ, nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu là của người nước ngoài. Các nhà khoa học trong nước tham gia nghiên cứu đang còn ở mức độ rất khiêm tốn. Tính cho đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam đã tìm thấy 828 loài, nếu tính cả phân loài thì khu hệ chim Việt Nam có khoảng gần 1500 loài và phân loài chim thuộc 81 họ, 19 bộ, chiếm khoảng 9% tổng số loài chim trên toàn thế giới (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995)[17], trong đó có nhiều loài quý hiếm, đặc hữu đối với Việt Nam và khu vực Đông Dương. Tuy nhiên các nghiên cứu trước thập niên 90 của thế kỷ XX mang ý nghĩa lập danh lục và phân loại là chính, mục đích bảo tồn chưa được quan tâm nhiều trong thời kỳ này.
Nghiên cứu Khu hệ chim tại Khu BTTN Thươ ̣ng Tiế n Khu BTTN Thượng Tiến được thành lập theo Quyết định số 676-QĐ/UB ngày 30/09/1995 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hoà Bình. Theo Luận chứng kinh tế kỹ thuật năm 1995 và các báo cáo chuyên đề hệ động, thực vật Khu BTTN Thượng Tiến năm 1995 của Đoàn điều tra qui hoạch rừng tỉnh Hòa Bình thì hệ thực vật có 311 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 255 loài và 88 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch; hệ động vật có 280 loài và loài phụ, thuộc 86 họ và 25 bộ. 6 Cho đến hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về khu hệ chim của Khu BTTN Thượng Tiến. Theo luận chứng Kinh tế Kỹ thuật (1995)[25], có 77 loài chim, thuộc 36 họ, 12 bộ đã được ghi nhận trong Khu BTTN.
Tuy nhiên, theo đánh giá những con số trên đây mới chỉ là kết quả điều tra sơ bộ, với mục đích chính là phục vụ cho xây dựng luận chứng Kinh tế - Kỹ thuật. Trong danh lục này phần lớn là các loài chim sinh sống ở các sinh cảnh ven rừng, trảng cỏ, cây bụi, đồng ruộng và làng bản. Chưa có nhiều loài sinh sống trong sinh cảnh rừng tự nhiên được ghi nhận. Nghiên cứu khu hệ chim rừng trồ ng Keo và Bạch đàn là hai giống cây Lâm nghiệp được trồng rất phổ biến ở Việt Nam.
Cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hai loài cây này. Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài Keo và Bạch đàn từ trước đến nay chủ yếu nhằm đưa ra các giải nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường của hai giống cây trồng này. Ngoài hiệu quả kinh tế, môi trường loài Keo và Bạch đàn khi được trồng thành rừng còn có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó có lớp chim, vấn đề đang rất được quan tâm hiện nay. Trên thế giới, tại các nước phát triển, giá trị bảo tồn của các hệ sinh thái rừng trồng được nghiên cứu khá đầy đủ.
Ở Việt Nam, đối với khu hệ chim, ngoài công trình nghiên cứu của Vũ Tiến Thịnh (2009) về giá trị bảo tồn chim của rừng trồng Thông, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá về giá trị bảo tồn chim của các hệ sinh thái rừng trồng khác. Mặc dù rừng trồng đã xuất hiện trong các Khu BTTN, vùng đệm của các khu BTTN và rừng phòng hộ, tuy nhiên các nghiên cứu về đa dạng sinh học cho đến hiện nay mới chỉ tập trung vào rừng từ nhiên. Việc nghiên cứu khoa học về giá trị môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học còn chưa được chú ý. Do vậy, rất cần có những nghiên cứu giá trị bảo tồn của rừng trồng ở Việt Nam.
7 Chương 2 MỤC ĐÍ CH, MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mu ̣c đích Góp phầ n đánh giá tính đa da ̣ng của khu hê ̣ chim tại Khu BTTN Thượng Tiến và vai trò bảo tồ n đa da ̣ng sinh ho ̣c của một số sinh cảnh rừng trồng ở Viê ̣t Nam. Mu ̣c tiêu - Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài chim tại Khu BTTN Thượng Tiến. - Đánh giá vai trò bảo tồ n chim ở rừng trồ ng Keo và Ba ̣ch đàn.
Pha ̣m vi Nghiên cứu khu hê ̣ chim ở các sinh cảnh: - Rừng trồ ng Ba ̣ch đàn. - Rừng trồ ng Keo. - Rừng tự nhiên ở Khu BTTN Thượng Tiến. Thời gian nghiên cứu - Đợt 1, từ ngày 16 đến 26/4/2009: Khảo sát khu vực nghiên cứu và xác định tuyến điều tra.
- Đợt 2, từ 25/7 – 25/9/2009: Điều tra chim tại rừng tự nhiên Khu BTTN Thượng Tiến, rừng Keo thuộc Công ty lâm nghiệp Lương Sơn, Hòa Bình và rừng Bạch đàn thuộc Công ty lâm nghiệp Sông Lô, Vĩnh Phúc. - Đợt 3, từ 02/12/2009 – 02/2/2010: Điều tra chim tại rừng tự nhiên Khu BTTN Thượng Tiến, tỉnh Hòa Bình. Nô ̣i dung - Nghiên cứu tin ́ h đa da ̣ng và đă ̣c điể m Khu hê ̣ chim ở khu rừng Ba ̣ch đàn. 8 - Nghiên cứu tính đa da ̣ng và đă ̣c điể m Khu hê ̣ chim ở khu rừng Keo.
- Nghiên cứu tin ́ h đa da ̣ng và đă ̣c điể m Khu hê ̣ chim ở khu bảo tồ n thiên nhiên Thươ ̣ng Tiế n. - So sánh tin ́ h đa da ̣ng về thành phầ n loài chim ở rừng Keo và Ba ̣ch đàn với rừng tự nhiên. Phương pháp nghiên cứu 2. Tham khảo tài liệu và công tác chuẩn bị - Thu thập các tài liệu có liên quan: Các nghiên cứu về hệ thống phân loại chim, đặc điểm sinh thái loài, các nghiên cứu điển hình về khu hệ chim một số Khu bảo tồn và rừng trồng ở Việt Nam.
- Tham khảo có chọn lọc, bình luận các kết quả nghiên và đưa ra các định hướng nghiên cứu của đề tài. - Tham khảo ý kiế n của người làm công tác bảo tồ n, xin ý kiế n của Ha ̣t Kiể m lâm sở ta ̣i, Ủy ban nhân dân các xa.̃ - Dụng cụ phục vụ nghiên cứu: Bản đồ của khu vực nghiên cứu (Bản đồ địa hình và bản đồ hiện trạng rừng tỷ lệ 1:25.