CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhận thức chung về đồng quản lý Xã hội hiện đại đang phát triển nhanh chóng và đặc biệt là sự gia tăng về dân số trong những năm gần đây. Nhu cầu của con người thì ngày một cao về lương thực, thực phẩm, chất đốt, dược phẩm, nước uống, quỹ đất cho sản xuất, đi lại và làm nơi cư trú. Như vậy đồng nghĩa vơi sự gia tăng sức ép đối với Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, đặc biệt là tài nguyên rừng.
Trước thực trạng này đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và các thành phần liên quan tích cực thực hiện các đề tài nhằm tìm ra câu trả lời cho vấn đề trên trong thời gian gần đây. Nhiều tác giả đã nhận định và đưa ra thuật ngữ "đồng quản lý" là hướng hiệu quả để gìn giữ và bảo vệ tài nguyên rưng. Thuật ngữ "đồng quản lý" được sử dụng để mô tả sự bố trí, sắp xếp chính thức hoặc không chính thức giữa chính phủ, thành phần tư nhân hoặc tầng lớp dân cư liên quan đến việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, và các bên liên quan được chia sẻ quyền lợi. Đồng quản lý ở các khu rừng đặc dụng là tìm kiếm sự hợp tác, trong đó các bên liên quan cùng nhau thỏa thuận chia sẻ chức năng quản lý, quyền và nghĩa vụ trên một cùng lãnh thổ hoặc một khu vực tài nguyên dưới tình trạng bảo vệ.
Khái niệm này do Borrini - Feyerabend đưa ra năm 1996. Đến năm 2000 tác giả lại đưa ra khái niệm chung "Đồng quản lý như là một dạng hợp tác, trong đó hai hoặc nhiều đối tác xã hội hiệp thương với nhau xác định và thống nhất việc chia sẻ chức năng quản lý, quyền và trách nhiệm về một vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên được xác định". Tác giả giải thích thêm đối với mục tiêu về văn hóa, chính trị nhằm tìm kiếm sự công bằng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. Ông Nguyễn Quốc Dựng là một nhà nghiên cứu Lâm nghiệp người Việt Nam năm 2004 đã khái quát cụm từ "Đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên" là n 6 quá trình tham gia và hiệp thương của nhiều đối tác có mối quan tâm tới nguồn tài nguyên trong khu bảo tồn, nhằm đạt được một thỏa thuận thống nhất về quản lý vừa đáp ứng mục tiêu chung là bảo tồn thiên nhiên, vừa đáp ứng mục tiêu riêng có thể chấp nhận được phù hợp với từng đối tác [11].
Nghiên cứu đồng quản lý tài nguyên rừng trên thế giới Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên là bước ngoặt mới về quản lý tài nguyên, đó là một quy trình mang tính chính trị và trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đưa ra khái niệm này. Quốc gia đầu tiên trên thế giới đặt nền móng cho phương pháp tham gia quản lý tài nguyên rừng và khái niệm "tham gia quản lý rừng nói chung" (Joint Forest Management) lần đầu tiên được biết đến là Ấn Độ vào năm 2004. Thông qua việc chia sẻ nguồn lợi giữa các nhóm người dân địa phương với nhà nước, các chương trình dự án cũng đã giúp hòa giải sự tranh chấp nguồn tài nguyên giữa người dân và nhà nước. Các chương trình đồng quản lý và hợp tác rừng đã đem lại những kết quả to lớn.
Năm 1993, Nepal đã phát triển chính sách lâm nghiệp mới, nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ các nhóm sử dụng rừng thay chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng cảnh sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các bên liên quan, từ đó rừng được quản lý và bảo vệ hiệu quả hơn [25]. Theo báo cáo của nhà khoa học Oli Krishna Prasad (1999) tại khu bảo tồn hoàng gia Chitwan ở Nepal, cộng đồng dân cư ở vùng đệm được tham gia hợp tác với một số các bên liên quan quản lý tài nguyên vùng đệm phục hồi cho du lịch. Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30% - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ đầu tư trở lại cho các hoạt động n 7 phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng. Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở đồng quản lý tài nguyên rừng phục vụ cho du lịch ở vùng đệm.
Theo kết quả đánh giá của các nhà khoa học khi đồng quản lý tài nguyên rừng trên thế giới lan đến Châu Á thì Thái Lan là một nước được đánh giá đạt nhiều thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình đồng quản lý bảo vệ rừng. Các cộng đồng dân cư có đời sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng thường có nhiều kinh nghiệm khi đóng vai trò là người bảo vệ hoặc là người tham gia quản lý khu bảo tồn [29]. Vào khoảng những năm 1945 ở Thái Lan, độ che phủ từng đạt tới 60% đến năm 1995 giảm xuống còn 26%. Năn 1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái Lan (The Royal Forest Deparment) thành lập khu bảo tồn để bảo vệ diện tích rừng còn lại.
Điều này dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địa phương. Tại Vườn quốc gai Dong Yai Thái Lan người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dụng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái cũng như phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực. Tại Nam Sa, cộng đồng dân cư cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định rằng chính phủ khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát các hoạt động khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng, các hoạt động phá rừng và tác động tới môi trường.
Đồng quản lý ở Thái Lan có thể trở thành có thể trở thành bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam bởi vì Thái Lan cũng là một nước trong vùng Đông Nam Á, đặc biệt Việt Nam là một quốc gia có một số đặc điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội [29][26]. Ở Brazil, nông dân đã giúp quản lý 2,2 triệu ha rừng phòng hộ, khoảng một nửa số huyện ở Zimbabube tham gia vào chương trình CAMPFIRE. Ở đó người dân có thể chia sẻ lợi nhuận từ du lịch trong các khu rừng bảo vệ động n 8 vật hoang dã, các chương trình này giúp nhà nước bảo vệ được rừng, giúp người dân cải thiện được quyền tiếp cận với tài nguyên rừng. Tuy nhiên, chưa giúp được người dân nghèo cải thiện đáng kể sinh kế sinh nhai.
[28] Một nghiên cứu của MOenieba Isaacs và Najma Mohamed, thực hiện năm 2000 ở Vườn quốc Gia Richtersveld tại Nam Phi chỉ ra rằng việc xây dựng VQG đã có tác động rất lớn đến đời sống của người dân nơi đây. Dân cư ở đây sống bằng nghề khai thác kim cương, tuy nhiên đời sống của họ thì rất là khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, điều kiện làm việc trong hầm mỏ rất nguy hiểm. Trong khi đó thì việc khai thác này ảnh hường rất nhiều đến đa dạng sinh học nơi đây. trước tình hình đó Ban quản lý rừng đã đưa ra cam kết giữa người dân và chính quyền nhằm giảm thiểu tác động và bảo vệ đa dạng sinh học, cải thiện sinh kế cho người dân.
Người dân cam kết sẽ bảo vệ đa dạng sinh học trọng địa bàn họ sinh sống và chính quyền địa phương sẽ hỗ trợ xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ công nhằm nâng cao đời sống của người dân. Cũng ở Nam phi, tại Vườn quốc gia Kruger trước đây người dân đã chuyển từ Makuleke, khi chính phủ mới thành lập đã cho phép người dân trở lại vùng đất truyền thống để sinh sống. Để đạt được quyền sử dụng đất đai cũ người dân phải xây dựng quy ước bảo vệ môi trường trong khu vực Vườn quốc gia đồng thời họ cũng được chia sẻ những lợi ích thu được từ du lịch. Từ những kết quả đạt được từ đồng quản lý rừng ở Nam Phi đã trở thành bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển khác (Reid, H.
Ở Việt Nam Trong gần 70 năm qua, tài nguyên rừng ở Việt Nam liên tục giảm sút (xem biểu), xét trên tất cả các phương diện: diện tích, chất lượng, trữ lượng gỗ. cho đến hiện nay, tình trạng rừng bị chặt phá, cháy, khai thác bừa bãi. vẫn chưa bị chặn đứng, diện tích rừng bị giảm liên tục từ năm 1943 đến năm 1995 bình quân 1 năm giảm 0,79% diện tích rừng tự nhiên. Tỷ lệ giảm diện n 9 tích rừng tự nhiên lớn nhất là giai đoạn từ năm 1980 - 1985 (bình quân một năm là 2,2%).
Giai đoạn 1990 đến 1995 tỷ lệ mất rừng chỉ còn 0,42% năm. Từ năm 1995 đến nay, diện tích rừng tự nhiên được phục hổi và tăng 3,15%/năm [21]. Quyết định số 2089/QĐ-BNN-TCLN ngày 30/8/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố số liệu hiện trạng rừng toàn quốc tính đến hết năm 2011 như sau: Bảng 1.1: Diện tích rừng toàn quốc đến ngày 31/12/2011 Đơn vị tính: ha Phân theo chức năng Loại rừng Tổng diện tích Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất Diện tích có rừng 13. Rừng tự nhiên 10.
Để khắc phục tình hình trên, Chính phủ đã thực thi một loạt những giải pháp, trong đó giải pháp quản lý rừng và đất rừng có sự tham gia là một chiến lược quan trọng. Một số mô hình đồng quản lý tài nguyên rừng đặc dụng tại Việt Nam: Tổ bảo vệ rừng thôn Lạng tại VQG Xuân Sơm (Phú Thọ) Thôn Lạng, thuộc xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, là nơi sinh cư của gần 75 hộ dân (tính đến tháng 4/2011) chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao và Mường sống ngay trong vùng rừng của VQG Xuân Sơn. Đời sống của người dân ở đây chủ yếu dựa vào canh tác lúa nước, làm nương rẫy, khai thác lâm sản phụ và hoạt động dịch vụ. Mô hình giao khoán RĐD cho cộng đồng thôn Lạng quản lý được VQG Xuân Sơn bắt đầu thực hiện từ năm 2007 thông qua nguồn hỗ trợ của dự án nhà nước thuộc Chương trình 661.
Tổ bảo vệ rừng thôn Lạng là một tổ chức của cộng đồng thôn, trong đó mỗi hộ có ít nhất một thành viên tham gia. Tổ được chia thành 3 nhóm và được quản lý bởi 1 tổ trưởng và 3 tổ n 10 phó (trong đó có 2 nữ) do cộng đồng tín nhiệm bầu ra. Tổ trưởng không phải là trưởng thôn.