Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Quy hoạch môi trường 1. Khái niệm quy hoạch môi trường Quy hoạch môi trường (QHMT) là "quá trình sử dụng một cách hệ thống các kiến thức để thông báo cho quá trình ra quyết định về tương lai của môi trường" (Greg Lindsey, 1997). QHMT là "tổng hợp của các biện pháp môi trường công cộng mà cấp có thẩm quyền về môi trường có thể sử dụng" (Faludi, 1987).
Theo Toner, QHMT là "sự ứng dụng các kiến thức về khoa học tự nhiên và sức khỏe trong các quyết định về sử dụng đất" (Greg Lindsey, 1997). QHMT là "sự cố gắng làm cân bằng hài hòa các hoạt động phát triển mà con người vì quyền lợi của mình áp đặt một cách quá mức lên môi trường tự nhiên" (John E, 1979). QHMT là sự xác định các mục tiêu mong muốn đối với môi trường tự nhiên và đề ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó. Theo Vũ Quyết Thắng (2005), QHMT là "việc xác lập các mục tiêu môi trường mong muốn, đề xuất và lựa chọn phương án, giải pháp để bảo vệ, cải thiện và phát triển một/những môi trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất lượng của chúng theo mục tiêu đã đề ra".[15] Theo Phùng Chí Sỹ, QHMT là "quá trình sử dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật nhằm đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên trong một không gian xác định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung hoặc một ngành nói riêng".
n 5 Theo Nguyễn Thế Thôn (2004), QHMT "được hiểu là sự vạch định, quy định sắp xếp, bố trí các đối tượng môi trường theo không gian lãnh thổ hoặc theo không gian vật thể môi trường nhằm bảo đảm môi trường sống tốt đẹp cho con người và bảo vệ môi trường sống cho các hệ sinh vật của môi trường bền vững trong sự thống nhất với sự phát triển lâu bền của kinh tế xã hội theo các định hướng, các mục tiêu và thời gian của kế hoạch, phù hợp với trình độ phát triển nhất định". Các cấp độ và hình thức quy hoạch môi trường. QHMT có thể phân chia thành: Quy hoạch bảo vệ một thành phần môi trường (như đất, nước, nước ngầm, tài nguyên sinh vật vv. Quy hoạch môi trường tổng thể vùng, khu vực (lưu vực, vùng ven biển, hệ thống đô thị, các vùng sinh thái - hay vùng địa sinh vật).
QHMT vùng thường phải chú ý đến đầy đủ các yếu tố tài nguyên, chất lượng các thành phần môi trường (đất, nước, không khí), các hệ sinh thái nhạy cảm, sinh vật quý hiếm, đa dạng sinh học cũng như các hoạt động phát triển trong khu vực. Các cách tiếp cận đưa vấn đề môi trường vào quy hoạch phát triển (ADB-1991) Kỹ thuật quy hoạch môi Nhất thể hóa chính sách, Cấp quy hoạch trường được ADB sử thủ tục môi trường dụng. Khái quát môi trường, Chính sách môi trường chiến lược môi trường, Quy hoạch cấp quốc gia được đưa vào quy hoạch chương trình hành động môi trường cấp quốc gia quốc gia về môi trường. Quy hoạch phát triển Quy hoạch tổng hợp Quy hoạch cấp khu vực khu vực và quy hoạch phát triển môi trường đa ngành khu vực, quy hoạch sử n 6 dụng đất, quy hoạch đa dự án Nghiên cứu ngành, các Hướng dẫn môi trường, Quy hoạch cấp ngành mối liên kết với ngành chiến lược môi trường khác ngành Thủ tục kiểm toán môi Kiểm điểm về môi trường cấp dự án: đánh Quy hoạch cấp dự án trường của các hoạt giá tác động môi trường động dự án và hướng dẫn môi trường Về tính chất, quy hoạch môi trường có thể được tiến hành theo một quy trình riêng biệt và tương đối độc lập - đó là các dạng quy hoạch chuyên ngành hay quy hoạch tổng thể môi trường.
Trong các dạng thức quy hoạch phát triển khác như quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị và quy hoạch vùng .v…việc lồng ghép chúng với các mục tiêu, chính sách môi trường là phương thức hiệu quả nhất để có thể đạt tới sự phát triển bền vững. Với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - môi trường, những vấn đề môi trường được đề cao, có vị trí ngang bằng với các thành phần quan trọng khác do đó tạo ra sự hài hòa và gắn kết cần thiết cho phát triển bền vững. Cơ sở pháp lý trong Quy hoạch môi trường ở Việt Nam Căn cứ pháp lý trong QHMT liên quan đến hầu hết các văn bản pháp luật hiện hành. Các văn bản pháp luật quan trọng hàng đầu là: Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 27/11/1993 và được Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành ngày 10/01/1994.
Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. n 7 Nghị định 175/CP của Chính phủ ra ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường. Nghị quyết số 37/NQ-TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010; Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội; Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam); Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến 2020 (theo QĐ 256/2003/QĐ-TTg); các chiến lược bảo vệ môi trường địa phương và ngành. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 theo Quyết định số 1216-QĐ-TTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Văn bản số 7401/NKH-CLPT ngày 09/10/2006 của Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư thống nhất xác định thời gian lập quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến năm 2020; 31 tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường bắt buộc áp dụng, ban hành theo quyết định số 35/2002/QĐ - BKHCNMT 25/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004. Luật Khoáng sản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX thông qua ngày 20/3/1996 và chủ tịch nước ký sắc lệnh công bố ban hành số 472-CTN ngày 3/4/1996. n 8 Luật Tài nguyên nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/5/1998.
Luật Thủy sản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 và được thông qua năm 2003. Luật Xây dựng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/11/2003. Luật Phát triển và bảo vệ rừng, ban hành ngày 18/11/1991 và luật sửa đổi, bổ sung luật phát triển và bảo vệ rừng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/11/2004. Các công ước quốc tế Việt Nam đã tham gia ký kết: Công ước về việc bảo vệ di sản và tự nhiên của thế giới (đã được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16-11-1972.
Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước Ramsar, 2-2-1971 (được sửa đổi theo nghị định thư Paris ngày 03-12-1982). Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới rác phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng. Công ước về đa dạng sinh học (Rio De Janeiro, ngày 05-06-1992). Đặc điểm của Quy hoạch môi trường Quy hoạch môi trường có một số đặc điểm như sau: - Quan điểm hệ sinh thái.
Quan điểm này xem xét con người trong tự nhiên hơn là tách khỏi nó; nghĩa là nhấn mạnh mối tương tác giữa con người với các hệ sinh thái tự nhiên và rộng hơn sinh quyển. Các dạng quy hoạch có xu hướng tập trung hẹp hơn. - Tính hệ thống. Xem xét tổng thể các thành phần liên quan, tập trung vào các thành phần chủ chốt và các mối quan hệ của chúng, thừa nhận các hệ thống là mở, tương tác với môi trường, nhân biết sự liên hệ và phụ thuộc giữa các hệ thống.
n 9 - Tính địa phương. Từ môi trường nhấn mạnh tính đặc trưng của mỗi địa phương, tuy nhiên cần thiết phải xem xét các thành phần môi trường và sự biến đổi môi trường trong phạm vi lớn hơn. - Tính biến đổi theo thời gian. Xem xét sự thay đổi môi trường theo các chu kỳ khác nhau, dài và ngắn, quá khứ và tương lai.
Nếu quỹ thời gian không hợp lí, quy hoạch môi trường sẽ không đạt được mục tiêu đã đặt ra. Các dạng quy hoạch khác thường có trục thời gian ngắn hơn. - Tính chất hướng vào tác động. Nghiên cứu xem xét đầy đủ những ảnh hưởng môi trường do hoạt động của con người và sự phân bố của chúng.
Các dạng quy hoạch khác thường có định hướng đầu vào, tập trung chủ yếu vào dữ liệu, mục tiêu và kế hoạch hơn là vào tác động của các hoạt động phát triển. - Tính phòng ngừa. Khuynh hướng chủ đạo trong chiến lược quy hoạch môi trường là nhu cầu bảo tồn, trong đó nó tập trung vào việc làm giảm nhu cầu đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ có khả năng tạo ra các stress hơn là việc chấp nhận các nhu cầu như là đã đặt ra từ trước và cố gắng tập trung vào việc làm giảm thiểu hay loại bỏ các ảnh hưởng môi trường. Các nguyên tắc Quy hoạch môi trường - Xác định rõ các mục tiêu và các đối tượng cho quy hoạch môi trường.
- Quy hoạch môi trường phải được tiến hành đồng thời với quy hoạch kinh tế - xã hội. - Xác định các quy mô về không gian và thời gian của quy hoạch môi trường - Quy hoạch môi trường luôn luôn trên quan điểm hệ thống, tức là phải phân tích và tổng hợp hệ thống. - Quy hoạch môi trường phải qua công tác đánh giá môi trường và lập các luận cứ khoa học cho quy hoạch môi trường. - Quy hoạch môi trường phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Quy trình Quy hoạch môi trường Sơ đồ mô tả các bước trong nghiên cứu lập quy hoạch môi trường.