Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái đất ngập nước và bãi bồi ven biển trên Thế giới và Việt Nam 1. Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước trên Thế giới Hoạt động nghiên cứu về ĐNN và khu vực bãi bồi ven biển được bắt đầu từ các nhà nghiên cứu về ĐNN ở phương Tây.
Những nghiên cứu ban đầu này tập trung chủ yếu vào các vấn đề: Động lực của đới ven bờ và cổ thực vật nhằm cung cấp dữ liệu về tiến trình phát triển và thay đổi của cảnh quan, văn hoá các vùng ĐNN, các quần xã thực vật tại các đầm lầy hay khuynh hướng nghiên cứu sinh thái tổng hợp kết hợp với các hoạt động bảo vệ thiên nhiên và động vật hoang dã. Ngay từ năm 1950, các hoạt động nghiên cứu tập trung chủ yếu về quần xã thực vật tại các đầm lầy, địa hình - địa mạo, thuỷ - hải văn, nghiên cứu động lực của đới ven bờ. Tiếp đến là các nghiên cứu về cổ thực vật nhằm giải thích sự thay đổi của chế độ khí hậu và mực nước biển trong quá khứ. Từ những năm 1970 trở lại đây cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và tài liệu thực nghiệm đã giúp các nhà nghiên cứu theo dõi sự thay đổi của các vùng ĐNN, từ đó có những hiểu biết cụ thể hơn về sự biến đổi các vùng ĐNN.
Oreeson và cộng sự , 1979 (trích theo Dugan, P.) (1990)) [33] đã thống kê 84% tổng số các trích dẫn là của các công trình nghiên cứu trong thập kỷ 70, 14% của các công trình thập kỷ 60 và chỉ có 2% là trích dẫn từ các công trình trước năm 1960. Khu vực Châu Á và Đông Nam Á là nơi có diện tích ĐNN lớn của thế giới. Do mật độ dân cư cao (chiếm 60% số dân toàn thế giới) các cộng đồng dân cư nơi đây phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên ĐNN. Vì thế, việc nghiên cứu và bảo tồn các vùng ĐNN có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các quốc gia trong khu vực, số các nước ký công ước Ramsar ngày càng tăng.
Công tác nghiên cứu ĐNN trên thế giới trong những năm qua đã nhận được sự ủng hộ của nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (The World Conservation Union - IUCN), Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF), các tổ chức phi chính phủ (NGO). Trong đó quan trọng nhất là vai trò của IUCN vì đây là 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợp kết nối với các hoạt động với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu ĐNN trên Thế giới [5]. Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước ở Việt Nam ĐNN ở Việt Nam khá đa dạng và phong phú về các kiểu hình với diện phân bố rộng khắp, trải dài từ Bắc vào Nam và có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc. Do vậy, ĐNN ở Việt Nam đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau như: Khoa học tự nhiên, kinh tế - xã hội, pháp luật,.
Các công trình nghiên cứu ĐNN ở Việt Nam tương đối phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề bức xúc như: Kiểm kê, phân loại, phân tích chức năng, giá trị của các hợp phần cấu thành của các vùng ĐNN, hoặc nghiên cứu tổng hợp một vùng, một đối tượng cụ thể. Một trong số những dự án đầu tiên có liên quan đến ĐNN ở Việt Nam là “Dự án sông Mê Kông và đồng bằng sông Cửu Long” của Uỷ ban sông Mê Kông (1957) do chính phủ 4 nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam thành lập. Dự án này đã tiến hành điều tra về thuỷ văn sông Mê Kông, kinh tế - xã hội, địa chất, khoáng sản và tiềm năng nông nghiệp vùng hạ lưu sông Mê Kông. Cũng trong dự án này công tác điều tra về động vật hoang dã của lưu vực sông Mê Kông được tiến hành, từ đó đưa ra những kiến nghị về hệ thống khu bảo tồn.
Tiếp theo là một loạt các đề tài, dự án, chương trình điều tra tổng hợp cũng như nghiên cứu các hợp phần của ĐNN từ những năm 1980 cho đến nay. Trong chương trình điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên toàn quốc, một chương trình cấp nhà nước do Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước chủ trì 1984 - 1986 đã bước đầu đề xuất tới việc bảo vệ thiên nhiên những vùng đất ngập nước Năm 1989, Việt Nam tham gia công ước Ramsar, đây cũng là thời điểm chính thức hình thành những nội dung cương yếu về hoạt động khoa học và bảo tồn thiên nhiên cho lĩnh vực đất ngập nước ở nước ta, do Vụ Điều tra Cơ bản (tiền thân của Cục Môi trường, nay là Cục Bảo vệ Môi trường) thuộc Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (sau là Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) chủ trì. Trên cơ sở các văn bản Công ước, các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về những vấn đề có liên quan đến đất ngập nước đã được tổ chức tập 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp lại, xác định những nội dung chuyên đề và xúc tiến hoạt động “nghiên cứu về đất ngập nước” một cách chính thức ở Việt Nam. Những nghiên cứu tiếp theo gồm đề tài KT 03 - 02 về đầm phá do Nguyễn Chu Hồi chủ nhiệm, KT 03 - 01 (chương trình 48B) về động lực bãi bồi, tiềm năng nguồn lợi ven biển miền Bắc Việt Nam do Trần Đức Thạnh, Nguyễn Đức Cự và Phí Kim Trung tiến hành.
Về kiểm kê và phân tích các chức năng, giá trị của ĐNN có các công trình của Lê Diên Dực, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng. Trong công trình nghiên cứu của Lê Diên Dực (1989), đã kiểm kê và công bố 32 vùng ĐNN quan trọng, cần được bảo vệ của nước ta. Trong các nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch các Khu bảo tồn ĐNN ở Việt Nam, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng đã thống kê tương đối đầy đủ các kiểu ĐNN là ao hồ (tự nhiên và nhân tạo), đầm phá cần quy hoạch thành các khu bảo tồn. Sau đó là hàng loạt các công trình kiểm kê và phân loại ĐNN của Nguyễn Hoàng Trí (1995), Phan Nguyên Hồng (1989 - 1998), Nguyễn Chu Hồi (1995), Mai Trọng Nhuận, Đào Mạnh Tiến và cộng sự (1992 - 2003), những công trình này đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của nghiên cứu ĐNN, đánh giá tổng quan các loại hình ĐNN, tiềm năng, tình hình quản lý, sử dụng, các áp lực, mối đe doạ, chiến lược bảo vệ và phát triển bền vững ĐNN trên toàn lãnh thổ Việt Nam [8, 12, 17, 18].
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về tài nguyên sinh thái và đa dạng sinh học các vùng ĐNN của Vũ Trung Tạng (1994), Mai Đình Yên (1993), Đặng Ngọc Thanh (1995 - 2000). Những công trình này đã thống kê, phân loại được nhiều quần xã sinh vật và quan trọng là tìm hiểu được nhiều thành phần, nguồn gốc và phân bố của chúng, trong đó đã nêu bật chức năng của vùng ĐNN như là bãi đẻ, vùng di cư quan trọng của một số quần thể có ý nghĩa quốc gia và xuyên quốc gia. Chương trình 64A (1982 - 1985) nghiên cứu hậu quả chiến tranh hoá học của Mỹ lên rừng ngập mặn tỉnh Minh Hải (GS. Phan Nguyên Hồng chủ nhiệm) đã nghiên cứu sự biến đổi của thảm thực vật RNM cũng như các giá trị thoái hoá của đất do rừng bị huỷ diệt bởi các chất diệt cỏ và chất làm rụng lá cây, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp phục hồi RNM.
Chương trình 64B (1986 - 1990) nghiên cứu hậu quả 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lâu dài của chiến tranh hoá học lên con người và thiên nhiên, từ đó tìm biện pháp khắc phục. Chương trình khoa học bảo vệ đất ngập nước toàn cầu do WWF và IUCN đồng chủ trì và hỗ trợ thực hiện năm 1985 - 1987 đã có ảnh hưởng tới sự khởi động nhận thức về lĩnh vực đất ngập nước ở nước ta. Cơ quan quản lý và chỉ đạo cấp Nhà nước trong các chương trình nghiên cứu về ĐNN là Cục Bảo vệ môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực sự tạo nên những định hướng và giải pháp phát triển nghiên cứu, chương trình hành động quản lý và bảo vệ những vùng đất ngập nước của Việt Nam. Năm 1989, nhiều văn bản quy phạm pháp lý liên quan về đất ngập nước ra đời.
Đặc biệt Nghị định của Chính phủ số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất hiện nay và đầu tiên riêng cho đất ngập nước. Năm 1992, Nguyễn Xuân Dục và cộng sự tiến hành nghiên cứu về những đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật của hệ sinh thái vùng triều miền Bắc Việt Nam. Năm 1993, Pham Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ thú tại VQG Xuân Thủy, khi đó đã ghi nhận được 17 loài [34]. Năm 1995, Nguyễn Xuân Dục đã tiến hành nghiên cứu về Động vật đáy vùng cửa sông ven biển Hà Nam Ninh.
Năm 1997, 1999, Nguyễn Văn Cư tiến hành nghiên cứu vê tình hình Khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường các bãi bồi ven biển sửa sông tỉnh Thái Bình (1997); và điều tra cơ bản tài nguyên môi trường nhằm khai thác, sử dụng hợp lý đất hoang hoá các bãi bồi ven biển cửa sông Việt Nam (1999). Cũng trong năm 1999, Ngô Xuân Quýnh và cộng sự đã nghiên cứu về các loài cá, thực vật nổi, động vật nổi và động vật đáy ở Khu Ramsar Xuân Thuỷ. Viễn thám và GIS cũng được đưa vào sử dụng như một công cụ cho việc quản lý, kiểm kê và nghiên cứu biến động các vùng đất ngập nước. Bằng các công nghệ này việc thành lập các bản đồ hiện trạng, biến động ĐNN cũng trở nên dễ dàng hơn.
Một hướng nghiên cứu thu hút được nhiều nhà khoa học là quản lý và sử 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.